Giới thiệu Đề Cương Ôn tập Giáo lý Thêm Sức GPTB

  • 22/05/2022
  • Kính thưa quý Huynh Trưởng, Giáo lý viên! Thể theo yêu cầu của nhiều giáo xứ cũng như của các học viên về việc Giới hạn Chương trình Ôn Tập Giáo Lý Thêm Sức của GPTB, Ban Mục vụ Giáo lý xin trân trọng giới thiệu tới quý vị Đề Cương Ôn tập để quý vị tham khảo và hướng dẫn cho học viên. Xin trân trọng cảm ơn.

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIÁO LÝ THÊM SỨC

    GIÁO PHẬN THÁI BÌNH

    BÀI 1 : CHUẨN BỊ VÀO ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH

    —X–

    1. Những lý do đòi hỏi phải quan tâm đặc biệt đến việc chuẩn bị vào đời sống hôn nhân gia đình

    Gia đình ngày nay đã bị ảnh hưởng do những biến đổi rộng rãi sâu xa, ồ ạt của xã hội và văn hóa, như tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, đạo đức cương thường bị coi là lỗi thời, làm cho gia đình đang sống trong một tình cảnh cụ thể là “pha trộn giữa bóng tối và ánh sáng” . Các nhà nghiên cứu xã hội và các Nghị phụ của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới đã nêu lên những lý do thúc bách phải quan tâm đến việc chuẩn bị cho chu đáo

      1. Lý do thứ nhất

    Nhiều gia đình hầu như không biết gì về những điều liên quan đến ý nghĩa sâu xa và giá trị của đời sống hôn nhân gia đình. Các Ngài nêu ra bằng chứng là: “Con số các vụ ly dị gia tăng, vết thương về sự phá thai, việc dùng các phương pháp tuyệt sản ngày càng nhiều, việc hình thành một não trạng chống thụ thai”. Chẳng hạn trên toàn cõi Việt Nam, năm 1988 đã có 33.429 vụ ly dị chính thức có danh sách, mà tuyệt đại đa số là các cặp hôn nhân trẻ từ 30 tuổi trở xuống. Tổ chức y tế thế giới và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc cho rằng ở Việt Nam, việc nạo thai và phá thai cao nhất Á Châu, năm 1990 – 2000 con số lên tới 1.500.000 ca, mà hơn 300.000 là do các vị thành niên, chiếm 1/5 tổng số cả nước.

    1.2 Lý do thứ hai

    Những thông tin nguy hại do các phương tiện truyền thông đại chúng “cung cấp những cái nhìn và những đề nghị dưới dáng vẻ hấp dẫn nhưng nguy hại cho chân lý và phẩm giá con người - làm cho con người mất tự do và khả năng phán đoán khách quan.” . “Và cả những thông tin về tính dục không để ý đến các quy tắc luân lý  chẳng khác gì một bài dẫn nhập vào kinh nghiệm lạc thú, và đẩy người trẻ nhiều khi còn ở tuổi còn rất non dại, đến chỗ đánh mất sự tươi sáng và mở đường cho tật xấu” . Ở Việt Nam việc đề cao quyền làm chủ và quyền tự do quá trớn đã khiến nhiều bạn trẻ làm chủ một cách vô ý thức và vô trách nhiệm, đưa đến hậu quả cụ thể là những cuộc hôn nhân thử nghiệm, nghĩa là nam nữ sống thử như đôi vợ chồng thực sự. Các vụ thanh thiếu niên tự tử hoặc uống thuốc trừ sâu đi cấp cứu hàng năm chiếm 70 phần trăm.

    Tóm lại

    Tông Huấn Gia Đình nêu ra lý do chủ yếu phải quan tâm giúp các bạn trẻ chuẩn bị là: nhiều người không hiểu đúng sự thật trọn vẹn về phẩm giá hôn nhân và gia đình, và không hiểu đúng ý nghĩa đích thực của quyền làm chủ và quyền tự do. Sách Giáo lý Công giáo 1992 khẳng định rằng: “Để lời cam kết của đôi hôn phối trở thành một hành vi tự do và trách nhiệm, cũng như hôn ước có được nền tảng tự nhiên và siêu nhiên vững chắc, lâu dài, thì việc chuẩn bị vào đời sống hôn nhân và gia đình là điều quan trọng đứng hàng đầu” . Tông Huấn Gia Đình còn lập lại nhiều lần rằng nhu cầu được chuẩn bị “là điều thật cấp bách, để giúp các bạn nam nữ kết bạn, cử hành hôn phối, không những thành sự mà con sinh hoa kết quả”

    CÂU HỎI

    1. Tại sao phải chuẩn bị vào đời sống hôn nhân và gia đình?

    1.1. Vì hoàn cảnh và văn hoá ngày nay đang làm cho nhiều bạn trẻ không hiểu đúng ý nghĩa giá trị, mục đích của hôn nhân và gia đình, như ý định của Thiên Chúa.

    1.2. Vì có học biết đầy đủ mới thành công hơn trong đời sống hôn nhân và gia đình.

    2. Học những gì để chuẩn bị?

    2.1. Học ý nghĩa, giá trị , mục đích của hôn nhân và gia đình, mà trọng tâm là tình yêu vợ chồng, một tình yêu bằng cả hồn và xác.

    2.2. Học những kinh nghiệm quý giá của Giáo Hội giúp bảo đảm và hướng dẫn đời sống hôn nhân và gia đình đạt tới thành công tốt đẹp.

    BÀI 2 :  LUÂN LÝ TÍNH DỤC

    —X–

    “Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Satan lợi dụng để cám dỗ” (1 Cr 7,4-5)

    Hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống trọn đời yêu thương nhau, sinh sản và giáo dục con cái. Như vậy, đời sống hôn nhân và gia đình liên hệ tới giới tính (người nam, người nữ), tính dục và tình dục (yêu thương nhau và sinh sản con cái). Khi nói tới những vấn đề này, nhiều người có thái độ khinh bỉ vì cho là xấu xa tội lỗi, hay lại quá đề cao để rồi lạm dụng bừa bãi.

    Vì thế, để có thái độ đúng đắn về những vấn đề này, chúng ta sẽ bàn tới 4 điểm sau đây: vấn đề tính dục, vai trò quan trọng của tính dục trong đời sống hôn nhân, tính dục phục vụ cho tình yêu vợ chồng, các nguyên tắc luân lý tính dục.

    1. Vai trò của tính dục trong tình yêu vợ chồng

    Giới tính và tính dục là ân huệ Thiên Chúa ban cho con người. Con người là một thực thể gồm xác và hồn. Xác và hồn không phải là hai phần cô lập nhau, nhưng chúng liên hệ mật thiết với nhau, tác động lên nhau cách sâu xa. Do đó, khi vợ chồng sử dụng giới tính để nên một với nhau và sinh sản con cái, thì đây không phải chỉ là chuyện sinh lý thuần túy, mà còn liên quan đến điểm thâm sâu nhất trong ngôi vị con người là tình yêu.

    Như thế, tính dục chỉ có giá trị nhân linh đích thực, nếu nó là thành phần không thể thiếu được của tình yêu, một khi vợ chồng đã cam kết hiến thân trọn vẹn cho nhau trong suốt cả cuộc đời.

    Tình yêu vợ chồng là một tình yêu vị tha, trao hiến và đón nhận nhau suốt đời, nên là một thứ tình yêu vị tha cao cấp nhất giữa người với người. Chính vì thế, tính dục có một vai trò quan trọng trong tình yêu vợ chồng. Nó là ngôn ngữ của tình yêu, giúp con người thông đạt với nhau một cách sâu xa nhất.

    2. Các nguyên tắc luân lý tính dục

    Tính dục là ngôn ngữ của tình yêu vợ chồng, giúp vợ chồng thông hiệp với nhau, đem lại cho nhau niềm hoan lạc chính đáng và trao ban một sự sống khác. Vì vậy, để có thái độ đúng đắn về vấn đề tính dục trong đời sống vợ chồng, đôi bạn phải nắm vững một số nguyên tắc luân lý sau đây:

    2.1. Nguyên tắc 1:

    Trong khuôn khổ hôn nhân tự nhiên và hôn nhân Công giáo, các hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quý và chính đáng.

    Tự hiến cho nhau trong sinh hoạt vợ chồng là hành vi cần thiết để biểu lộ tình yêu, làm phát sinh sự sống và nâng đỡ cho lòng trung tín.

    Dấu hiệu biểu lộ tình yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài sống mầu nhiệm hiệp thông và tình yêu nơi chính bản thân. Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình và tạo dựng họ có nam có nữ, Thiên Chúa trao ban cho họ một thiên chức; do đó họ có khả năng và trách nhiệm sống yêu thương và hiệp thông.

    Dấu hiệu làm phát sinh sự sống. Người nam và người nữ, bình đẳng về phẩm giá, dù với cách thức khác nhau, cả hai đều là hình ảnh của Thiên Chúa quyền năng và yêu thương. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân mô phỏng nơi thân xác con người sự quảng đại và sung mãn của Đấng Tạo Hóa: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24). Sự kết hợp này giúp bảo tồn giống nòi.

    Dấu hiệu biểu lộ lòng trung tín. Tình yêu chân thật đòi phải trung tín. Nhờ các hành vi tự nguyện trao hiến, đôi bạn được hỗ trợ để mãi mãi gắn bó, trong tư tưởng cũng như trong thân xác, lúc bĩ cực cũng như hồi thái lai, nhờ đó tránh được mọi thứ ngoại tình và bất tín.

    2.2. Nguyên tắc 2:

    Luân lý Công giáo tôn trọng thân xác, nhưng không quá đề cao hành vi giới tính.

    Thiên Chúa tạo dựng con người có hồn và xác. Chính việc Ngôi Hai xuống thế làm người và việc Đức Kitô sống lại từ cõi chết, là bằng chứng xác nhận giá trị của thân xác. Niềm tin “xác loài người ngày sau sống lại” cũng khẳng định giá trị của thân xác. Thật vậy, thân xác có một giá trị nhất định trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

    Tuy nhiên, thân xác không phải là tất cả con người. Các hành vi sinh lý chỉ có giá trị giới hạn. Chúng chỉ đáng quý trọng khi được thực hiện phù hợp với luật lệ của Thiên Chúa. Do đó, không thể quá đề cao hành vi trao hiến đến độ làm phương hại các giá trị cao quý khác của con người.

    2.3. Nguyên tắc 3:

    Đời sống hôn nhân Công giáo phải là đời sống trong sạch và tiết độ.

    Không phải chỉ bậc tu trì, mà mọi người, kể cả những người sống bậc vợ chồng, đều được mời gọi giữ đức khiết tịnh: “Mỗi người giữ đức khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình: người này trong bậc trinh khiết hay độc thân của đời thánh hiến, một cách thức dễ dàng tận hiến trọn vẹn tâm hồn cho Thiên Chúa; kẻ khác trong bậc gia đình hay độc thân, tùy theo luật luân lý xác định.”

    Sống khiết tịnh là làm chủ giới tính, giúp ta làm chủ bản thân, nhờ đó, ta có thể thống nhất đời sống và hiến thân trọn vẹn. Người có gia đình cần sống khiết tịnh, nghĩa là sống trong sạch và tiết độ, bởi vì:

    -   Trong sạch và tiết độ qua hành vi ân ái là thước đo tinh thần xả kỷ, hiến thân vì hạnh phúc và nhu cầu của người mình yêu.

    -  Trong sạch và tiết độ còn là sự biểu lộ mức trưởng thành và tự chủ của đôi bạn biết yêu thương và kính trọng nhau.

    Phải trong sạch trong thân xác: lạc thú tính dục được Thiên Chúa sắp đặt để nâng đỡ đời sống hôn nhân và gia đình. Do đó, chỉ những ai là vợ chồng của nhau mới có quyền trên xác của nhau.

    3.  Những lỗi phạm đến đức khiết tịnh và xúc phạm đến phẩm giá Hôn nhân

    Những lỗi phạm đến đức khiết tịnh và xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân gồm có:

    -   Dâm ô là ham muốn sai trái hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục. Khoái lạc tình dục trở thành sai trái, khi con người chỉ tìm hưởng thụ để thỏa mãn chính mình, chứ không nhằm mục đích truyền sinh và kết hợp trong tình yêu.

    - Thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục nhằm gây khoái lạc tình dục. Thủ dâm tự bản chất là một hành động sai trái nghiêm trọng, vì tự ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng bình thường, dù với động lực nào đi nữa, cũng là sai mục đích. Làm như vậy, người ta hưởng thụ khoái lạc tình dục bên ngoài “quan hệ tình dục hợp luật luân lý là quan hệ thực hiện một sự hiến thân trọn vẹn cho nhau và thực hiện việc truyền sinh trong khuôn khổ của tình yêu đích thực.”

    -  Tà dâm là quan hệ xác thịt giữa một người nam và một người nữ chưa lập gia đình. Đây là lỗi nặng, xúc phạm đến nhân phẩm và giới tính của con người, vốn qui về lợi ích của đôi vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con cái.

    -  Khiêu dâm cố ý phơi bày những hành vi tình dục thầm kín. Chúng xúc phạm đến đức khiết tịnh vì làm biến chất hành vi ái ân là việc trao ban thầm kín của vợ chồng với nhau.

    -   Mại dâm xúc phạm đến phẩm giá của người bán dâm vì họ biến mình thành trò vui xác thịt cho người mua dâm. Kẻ mua dâm phạm tội nặng nơi bản thân: họ vi phạm đức khiết tịnh đã cam kết khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, và làm ô uế thân xác là đền thờ Chúa Thánh Thần.  Mại dâm là một đại họa cho xã hội. Mại dâm bao giờ cũng là tội trọng; nhưng trách nhiệm của kẻ mại dâm có thể giảm khinh vì túng bấn, bị hăm dọa hay áp lực xã hội.

    -  Hiếp dâm là dùng bạo lực bắt kẻ khác quan hệ xác thịt với mình. Đây là tội phạm đến công bằng và bác ái. Hiếp dâm xúc phạm nặng nề đến quyền được tôn trọng, quyền tự do và toàn vẹn thể lý cũng như tinh thần của nạn nhân, gây thương tổn nghiêm trọng có thể kéo dài cả cuộc đời của nạn nhân. Hiếp dâm tự nó là một hành vi xấu xa, tội này lại càng nặng nề hơn nữa, khi cha mẹ hay người giáo dục lạm dụng thân xác các em được ủy thác cho họ.

    -  Đồng tính luyến ái là những liên hệ tính dục giữa những người cùng giới tính.

    -  Ngoại tình là tội vợ chồng thất tín với nhau. Khi hai người nam nữ có quan hệ tính dục với nhau, dù là nhất thời mà trong đó có ít nhất một người đã kết hôn, thì cả hai phạm tội ngoại tình. Đức Kitô lên án tội này ngay cả khi chỉ là một ước muốn. Điều răn thứ sáu và Tân Ước tuyệt đối cấm tội ngoại tình. Ngoại tình là điều bất công vì không thực hiện những cam kết của mình, làm tổn hại đến dây liên kết hôn nhân là dấu chỉ của giao ước, vi phạm quyền của người phối ngẫu và xâm phạm định chế hôn nhân khi lỗi phạm hôn ước. Người ấy làm phương hại đến lợi ích của việc sinh sản và  của con cái vốn cần đến sự kết hợp bền vững của cha mẹ.

    -  Ly dị vi phạm nghiêm trọng luật tự nhiên, phế bỏ khế ước mà vợ chồng đã tự do ưng thuận để sống với nhau cho đến chết. Ly dị làm tổn hại giao ước cứu độ mà bí tích Hôn phối là dấu chỉ. Người tái hôn, sau khi ly dị, phạm tội ngoại tình công khai và thường xuyên: “Nếu người chồng, sau khi đã chia ly với vợ mình, ăn ở với một người phụ nữ khác, thì phạm tội ngoại tình, vì làm cho phụ nữ đó cũng phạm tội ngoại tình; người phụ nữ ăn ở với người đàn ông đó phạm tội ngoại tình vì đã dụ dỗ chồng của người khác”. Ly dị là phi luân vì làm xáo trộn gia đình và xã hội. Việc xáo trộn này kéo theo nhiều tổn hại nghiêm trọng: cho người phối ngẫu vì bị ruồng bỏ; cho con cái phải đau khổ vì cha mẹ phân ly, và lắm khi còn bị dằng co không biết theo ai; cho xã hội vì hiệu quả lây lan của nó, nó thực sự là một tai ương cho xã hội.

    -  Đa thê tuyệt đối nghịch lại với sự hiệp thông giữa vợ chồng: trực tiếp chối bỏ kế hoạch của Thiên Chúa đã được mặc khải cho ta từ buổi đầu, nghịch với phẩm giá bình đẳng của người nữ và người nam, cả hai hiến thân cho nhau trong một tình yêu trọn vẹn, duy nhất và độc hữu.

    -  Loạn luân là quan hệ tính dục giữa những người họ hàng cùng huyết tộc, mà luật cấm kết hôn với nhau. Thánh Phaolô lên án trọng tội này. Tội loạn luân phá vỡ quan hệ gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính.

    Có thể gọi là loạn luân, những lạm dụng tính dục do những người trưởng thành đối với trẻ con hoặc thiếu niên đã được ủy thác cho họ. Người phạm tội này phải chịu trách nhiệm gấp đôi: một mặt vì gây gương xấu xâm phạm đến sự toàn vẹn thể lý và luân lý của các người trẻ, và để lại hậu quả tai hại suốt đời, mặt khác vì họ lỗi trách nhiệm giáo dục của mình.

    - Tự do sống chung là khi nam nữ sống chung như vợ chồng nhưng không cưới xin, từ chối kết hôn theo đúng bản chất của hôn nhân, không thể ràng buộc nhau bằng những cam kết dài lâu. Tất cả những trường hợp này xúc phạm phẩm giá của hôn nhân, phá hủy ý niệm về gia đình, làm suy giảm cảm thức về lòng thủy chung. Chúng nghịch với luật luân lý: hành vi tính dục chỉ được chấp nhận trong hôn nhân; còn nếu ngoài hôn nhân, thì đó là một tội trọng và không được hiệp thông các bí tích.

    - Hôn nhân thử là nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng tạm thời để thử, rồi sau đó, nếu hợp thì sẽ kết hôn. Tuy nhiên, dù họ có quyết tâm kết hôn, cũng không thể bảo vệ giữa họ là chân thật và thủy chung, và nhất là giữ cho quan hệ này khỏi những ý muốn ngông cuồng và nông nổi. Về phương diện luân lý, sự kết hợp xác thịt chỉ hợp pháp khi đã chính thức kết hôn. Tình yêu không chấp nhận thử nghiệm; nhưng đòi hỏi hiến thân cho nhau trọn vẹn và dứt khoát.

    CÂU HỎI

    1. Tính dục là gì?

    Tính dục là khuynh hướng tự nhiên Thiên Chúa đặt nơi con người để tiếp xúc, gặp gỡ với người khác, dù là nam hay nữ, hoặc để người nam và người nữ yêu thương nhau hướng tới hôn nhân và gia đình.

    2. Tính dục phục vụ cho tình yêu vợ chồng thế nào?

    Các hành vi tính dục giúp đem lại niềm hoan lạc cho đời sống vợ chồng và làm cho họ gắn bó nên một với nhau một cách sâu xa. Ngoài ra, còn giúp tình yêu vợ chồng mở ngỏ cho sự sống và diễn tả sự phong phú của Thiên Chúa, cũng như góp phần xây dựng nền văn minh tình yêu.

    3. Vợ chồng cần nắm vững những nguyên tắc luân lý nào trong đời sống tính dục?

    Vợ chồng cần nắm vững những nguyên tắc luân lý sau đây:

    3.1. Một là các hành vi tính dục được thực hiện trong khuôn khổ hôn nhân đều chính đáng và cao quý.

    3.2. Hai là luân lý Công giáo tôn trọng thân xác, nhưng không quá đề cao hành vi tính dục.

    3.3. Ba là đời sống hôn nhân Công giáo phải là đời sống trong sạch và tiết độ.

    4. Sự khiết tịnh trong đời sống hôn nhân là gì?

    Sự khiết tịnh trong đời sống hôn nhân là biết làm chủ giới tính, nhờ đó vợ chồng ăn ở với nhau một cách tiết độ.

    5. Có những tội nào phạm đến đức khiết tịnh?

    Có những tội này là: dâm ô, thủ dâm, tà dâm, khiêu dâm, mại dâm và hiếp dâm.

    6. Có những tội nào xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân?

    Có những tội này là: ngoại tình, ly dị, đa phu, đa thê, loạn luân, đồng tính luyến ái và tự do sống chung như vợ chồng.

    BÀI 3: SỐNG THỜI KỲ ĐÍNH HÔN

    —X–

    1 - Ý nghĩa của thời kỳ đính hôn hay hứa hôn

    Đính hôn là kết thúc giai đoạn sơ khởi của gặp gỡ, quen biết, để đưa tình yêu lứa đôi lên một mức nghiêm túc hơn và hướng đến một quyết định quan trọng là thành hôn. Lễ đính hôn là một truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới. Ở Việt Nam, thường có lễ dạm rồi đến đính hôn hay lễ ăn hỏi và sau cùng là lễ thành hôn hay lễ cưới. Tuy nhiên hiện nay nhiều nơi chỉ còn lễ hỏi và lễ cưới.

    Lễ đính hôn công khai hóa tình yêu của hai người với họ hàng đôi bên, bà con lối xóm và bạn bè thân hữu. Từ ngày đính hôn đôi bạn có tư cách chính thức để công khai gặp gỡ tìm hiểu nhau cũng như tìm hiểu gia đình của nhau. Sau lễ đính hai bên gia đình sẽ trình với cha xứ biết để ngài hướng dẫn đôi bạn về giáo lý hôn nhân cũng như chuẩn bị những thủ tục cần thiết cho việc cử hành bí tích hôn phối.

    2 - Tại sao cần phải có thời kỳ đính hôn?

    Thời gian đính hôn là thời gian chuẩn bị. Việc chuẩn bị này là điều quan trọng, giúp cho đôi bạn chín chắn và trưởng thành khi đưa ra lời cam kết, cũng như giúp cho hôn ước của đôi bạn có được nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, vững chắc và lâu dài. Hội Thánh nhắc nhở những bậc có trách nhiệm: “Phải biết giáo dục thanh thiếu niên hợp thời và hợp cách về phẩm giá, phận sự và hành vi thể hiện tình yêu vợ chồng, nhất là trong chính khung cảnh gia đình; nhờ đó, một khi đã được rèn luyện để giữ đức khiết tịnh, đến tuổi thích hợp, họ có thể tiến tới hôn nhân sau khi đã sống đúng đắn giai đoạn đính hôn.”

    Thời gian đính hôn là thời gian quý báu giúp đôi bạn có thêm cơ hội thích hợp để tìm hiểu nhau và gia đình của nhau, chứng tỏ cho nhau về tình yêu của mình, và xem thử những tình cảm ban đầu có thể trở thành tình yêu vợ chồng suốt đời không.

    Thời gian đính hôn dài hay ngắn là tùy theo mức độ hiểu biết của đôi bạn về hôn nhân và gia đình, và tùy theo đôi bạn có tâm đầu ý hợp không. Nói chung, không nên vội vàng, hấp tấp; cũng không nên kéo dài quá lâu.

    3 - Sống thời kỳ đính hôn như thế nào?

    Để cuộc hôn nhân được tốt đẹp và hạnh phúc, việc quan trọng trước hết cần phải làm trong thời gian đính hôn là gia tăng cầu nguyện, lắng nghe ý Chúa, xin Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn để mình có thể tìm hiểu và chọn lựa đúng đắn.

    Cần học giáo lý hôn nhân để hiểu rõ về ý nghĩa, mục đích của bí tích hôn phối cũng như những đòi hỏi của bậc sống hôn nhân và gia đình.

    Đôi bạn cần tìm hiểu nhau và gia đình của nhau để xem có hợp với nhau hay không; đồng thời cần giúp nhau sửa đổi những thiếu sót, khuyết điểm trong tinh thần khiêm tốn và biết phục thiện.

    Đôi bạn cũng cần trao đổi với nhau về những vấn đề quan trọng, chẳng hạn vấn đề sinh sản và giáo dục con cái, công việc làm ăn, sử dụng tiền bạc, sống đạo, làm việc tông đồ... Bởi vì, sau khi kết hôn mà không nhất trí được với nhau về những vấn đề quan trọng, hoặc phát hiện ra những chuyện tình cảm của quá khứ bị giấu giếm, thì hạnh phúc có nguy cơ bị đổ vỡ.

    Đặc biệt đôi bạn cần chứng tỏ cho nhau một tình yêu chân thành, trong sáng và chung thủy. Trong thời gian thử thách này, họ phải biết tự chủ, tự trọng và tôn trọng lẫn nhau, tập chung thủy và hy vọng được đón nhận nhau như quà tặng của Thiên Chúa. Họ sẽ dành những hành động biểu lộ tình yêu vợ chồng cho thời gian sau ngày thành hôn. Họ phải giúp nhau sống khiết tịnh bằng một quyết tâm dứt khoát, can đảm từ chối mọi nhượng bộ dù rất nhỏ mọn và xa tránh những hoàn cảnh dễ đưa đến vấp ngã.

    Món quà tuyệt vời nhất đôi bạn có thể dành cho nhau trong ngày cưới chính là giúp nhau giữ được sự trong trắng của thời kỳ đính hôn. Những phim ảnh và sách báo lệch lạc đã khiến nhiều bạn trẻ nghĩ rằng không thể giữ được sự khiết tịnh và dễ buông theo bản năng. Thế nhưng, nếu có can đảm tự chủ trong những điều nhỏ mọn, họ có thể vượt thắng cám dỗ. Cụ thể là họ cần phải làm chủ đôi mắt, xúc giác và trí tưởng tượng.

    Cách riêng, họ phải luôn sống trước nhan thánh Chúa trong tâm tình kính sợ, tin cậy và yêu mến. Tự sức riêng, họ thật yếu đuối nhưng Chúa luôn mạnh mẽ. Do đó, họ cần bám víu vào ơn Chúa bằng kinh nguyện. Nên nhớ rằng thời kỳ đính hôn là thời gian rất cần ơn Chúa để sự chuẩn bị mọi mặt được chu đáo. Từ đó, đôi bạn sẽ cố gắng hết sức để luôn giữ mình trong tình trạng đẹp lòng Chúa và được Ngài chúc phúc. Nếu lỡ sa ngã vì yếu đuối, họ cần mau mắn lãnh nhận bí tích tha thứ. Cả hai bên đều phải ý thức và giúp nhau đứng vững, vì hạnh phúc lâu bền của cả hai người.

    Thời kỳ đính hôn vừa giúp đôi bạn chuẩn bị bước vào cuộc sống mới vừa giúp họ suy nghĩ cân nhắc thật kỹ lưỡng trước sự quyết định quan trọng cho cả một đời. Bao lâu chưa cử hành bí tích Hôn phối, họ vẫn còn có thể chia tay trong bình an.

    4 - Nếu mộng không thành thì sao?

    Sau thời gian gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nhận xét nhau một cách đúng đắn mà không thể nhất trí với nhau trong những việc quan trọng kể trên thì đừng ngần ngại hủy bỏ lời hứa hôn. Thà khóc ít khi phải từ hôn, còn hơn khóc hoài trong một gia đình vô phước suốt cả cuộc đời. Đoạn tuyệt trong thời kỳ đính hôn, còn hơn sau này thành hôn rồi ly thân ly dị nhau. Nếu người con gái biết mình bị lừa gạt, lạm dụng, đã sa ngã, thì vẫn có thể hủy bỏ lời hứa hôn, không nên cưới nhau chỉ vì đã “lỡ có bầu với nhau” chứ không thực sự yêu thương nhau; vì thà phải sống độc thân một mình nuôi con vẫn còn hơn đem thân làm tôi suốt đời cho một chàng “sở khanh” lừa gạt. Nhưng chỉ nên từ hôn vì những lý do thật đúng đắn, vì bất cứ cuộc tan vỡ nào cũng để lại những vết thương khó chữa lành trong lòng.

    CÂU HỎI

    1. Tại sao phải có thời kỳ đính hôn rồi mới thành hôn?

    Phải có thời kỳ đính hôn vì:

    - Một là vì hôn nhân là việc rất quan trọng, ảnh hưởng đến hạnh phúc cả cuộc đời.

    - Hai là vì đôi bạn cần có thời gian để tìm hiểu về ý nghĩa, mục đích và những đòi hỏi của hôn nhân và gia đình Kitô giáo.

    - Ba là vì đôi bạn cần có cơ hội để tìm hiểu về bản thân và gia đình của nhau để xem có hợp với nhau hay không.

    2 - Phải sống thời kỳ đính hôn như thế nào?

    T. Trong thời kỳ đính hôn, đôi bạn cần gia tăng cầu nguyện, tích cực học hỏi về đời sống hôn nhân và gia đình, chứng tỏ cho nhau một tình yêu chân thành, trong sạch và chung thủy.

    BÀI 4 – TÌNH YÊU VỢ CHỒNG

    —X–

    1 - Đặc tính của tình yêu vợ chồng

    1.1.  Tình yêu kết hợp nên một

    Tình yêu vợ chồng trước hết hướng đến việc kết hợp nên một: “Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai nên một thân thể” (St 2,24; Mt 19,5; Mc 10,8). Trước khi lấy nhau, họ là hai thế giới khác biệt với những vấn đề, những khát vọng, những niềm vui, nỗi buồn riêng tư. Giờ đây, khi đã lấy nhau, hai thế giới đó được hoà trộn vào nhau, thành một xương một thịt và một tâm hồn, chia sẻ một vận mệnh và một cuộc sống. Sự kết hợp đó sâu xa đến nỗi chỉ cái chết mới có thể chia lìa. Chính vì vậy, tình yêu hôn nhân đòi hỏi sự đơn nhất và bất khả phân ly.

    1.2. Tình yêu trao hiến trọn vẹn

    Nhờ khả năng tính dục, người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi ân ái dành riêng cho vợ chồng. Tính dục không chỉ là hành vi sinh lý, mà còn liên can đến những điều thâm sâu nhất của nhân vị.

    Những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quý và chính đáng. Chúng biểu hiện và khích lệ sự hiến thân cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn.

    Sự trao hiến trọn vẹn toàn thể con người dẫn đôi bạn đến sự kết hợp mật thiết với nhau thành một trái tim, một tâm hồn, một cuộc sống. Nhờ sự kết hợp nên một và trao hiến trọn vẹn của vợ chồng, hai mục đích của hôn nhân được thực hiện: lợi ích của chính đôi vợ chồng và lưu truyền sự sống.

    1.3. Tình yêu chung thủy

    Tình yêu hôn nhân đòi hỏi hai vợ chồng phải dứt khoát, không được tạm bợ, nghĩa là phải luôn chung thuỷ với nhau, bởi vì do giao ước hôn nhân, họ không còn là hai, nhưng đã trở thành một thân thể duy nhất.

    Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vĩnh viễn không lay chuyển. Tình yêu vợ chồng được tham dự vào tình yêu này và được tình yêu này hướng dẫn và nâng đỡ. Nhờ chung thủy với nhau, vợ chồng trở thành chứng nhân cho tình yêu trung tín của Thiên Chúa.

     1.4. Tình yêu mở ngỏ cho sự sống

    Truyền sinh vừa là một ân huệ, vừa là một mục tiêu căn bản của hôn nhân, vì tự bản chất, tình yêu vợ chồng hướng tới việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải là một cái gì được thêm vào từ bên ngoài. Vì thế, mọi hành vi ân ái phải mở ngỏ cho việc truyền sinh. Hội Thánh đã nhắc đi nhắc lại điều này nhiều lần: hành vi ân ái luôn mang hai giá trị bất khả phân ly: kết hợp và truyền sinh. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được phá bỏ.

    Vì được mời gọi thông truyền sự sống, đôi vợ chồng tham dự vào quyền năng sáng tạo và tình phụ tử của Thiên Chúa. Trong khi thi hành bổn phận truyền sinh và giáo dục, đôi vợ chồng biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa và trở thành như những người diễn đạt tình yêu của Ngài. Do đó, họ sẽ chu toàn bổn phận trong tinh thần trách nhiệm của một con người và một Kitô hữu.

    Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm, đó là điều hòa sinh sản. Khi có lý do chính đáng, đôi vợ chồng có quyền kéo dài khoảng cách giữa những lần sinh con. Chính họ phải chứng thực rằng ước muốn đó không do ích kỷ, nhưng xứng hợp với lòng quảng đại chính đáng của bậc làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải xử sự theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý.

    2. Nhiệm vụ vợ chồng

    2.1. Nhiệm vụ của người chồng

    Trong gia đình, cộng đoàn hiệp thông giữa các ngôi vị, người nam được mời gọi sống sự tự hiến của mình trong vai trò là chồng và là cha.

    Qua người vợ, người chồng nhìn thấy ý định của Thiên Chúa được thực hiện: “Đàn ông ở một mình không tốt, Ta hãy tạo dựng cho nó một nội trợ giống như nó” (St 2, 18). Người chồng sẽ có cùng một tiếng kêu hạnh phúc như Ađam, người chồng đầu tiên: “Bây giờ xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23).

    Tình nghĩa vợ chồng đòi buộc người chồng phải thực sự tôn trọng phẩm giá của người vợ, như thánh Ambrôxiô đã viết: “Con không phải là chủ của nàng, nhưng là chồng nàng; nàng được trao cho con để làm vợ chứ không phải để làm nô lệ... Hãy đáp lại những quan tâm nàng đã dành cho con, và hãy biết ơn tình yêu của nàng”.

    Đối với vợ, người chồng phải trở nên người bạn đời. Hơn thế nữa, người chồng còn được mời gọi trở nên người bạn đạo bằng cách yêu thương vợ mình một cách tế nhị và mạnh mẽ như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh

    Tình yêu đối với người vợ đã trở thành mẹ và tình yêu đối với con cái là con đường tự nhiên đưa người chồng đến chỗ hiểu biết và thể hiện tư cách làm cha của mình. Chỗ đứng và vai trò của người cha trong gia đình có một tầm quan trọng không ai có thể thay thế được. Sự vắng mặt của người cha thường gây ra những sự thiếu quân bình về tâm lý và tinh thần, cũng như nhiều khó khăn đáng kể khác trong những tương quan gia đình; nhưng ngược lại, cũng sẽ xảy ra như thế nếu sự hiện diện của người cha lại mang tính cách áp bức và độc đoán.

    Khi biểu lộ và sống tình cha của Thiên Chúa, người chồng được mời gọi đứng ra bảo đảm sự phát triển thống nhất của mọi thành phần trong gia đình. Để chu toàn sứ mạng này, người chồng cần phải quảng đại lãnh lấy trách nhiệm đối với sự sống đang được người vợ cưu mang, và cố gắng giáo dục con cái cùng với vợ mình; công việc ấy sẽ không bao giờ làm chia rẽ gia đình, nhưng làm cho gia đình được vững mạnh trong sự hiệp nhất và ổn định, trở nên một chứng tá về đời sống Kitô hữu trưởng thành, để con cái có được kinh nghiệm sống động về Đức Kitô và về Hội Thánh một cách hữu hiệu hơn.

    2.2. Nhiệm vụ của người vợ

    Trong gia đình, người nữ cũng được mời gọi sống sự tự hiến của mình trong vai trò là vợ và là mẹ. Trước hết cần khẳng định rằng người vợ bình đẳng với người chồng về phẩm giá cũng như về trách nhiệm. Sự bình đẳng này được thể hiện một cách đặc biệt trong sự hy sinh cho con cái. Một sự trao hiến như thế chỉ có trong hôn nhân và gia đình. Điều con người cảm nghiệm, cũng là điều được mặc khải đầy đủ trong Lời Chúa. Thật vậy, lịch sử cứu độ cho thấy phẩm giá của người phụ nữ luôn luôn được đề cao.

    Tuy nhiên, cho đến nay không thể phủ nhận rằng có nhiều người muốn thu hẹp phạm vi của người phụ nữ vào vai trò làm vợ và làm mẹ, không để cho họ bước ra ngoài xã hội, nắm giữ những trọng trách, vốn thường được coi như chỉ dành cho nam giới. Chắc chắn sự bình đẳng về phẩm giá và trách nhiệm giữa người nam và người nữ cho phép người nữ dấn thân vào các vai trò xã hội. Đàng khác, cũng cần phải nhìn nhận rằng vai trò làm mẹ và làm nội trợ của người phụ nữ có giá trị không thua kém so với những vai trò ngoài xã hội và những nghề nghiệp khác.

    Cần vượt qua não trạng cho rằng danh dự của phụ nữ là do việc làm ngoài xã hội hơn là do hoạt động trong gia đình. Nhưng để đạt được điều ấy, nam giới cần biết quý chuộng và thật sự yêu thương người phụ nữ với tất cả sự tôn trọng phẩm giá cá nhân của họ, và xã hội cần phải tạo ra và phát triển những điều kiện thích hợp cho công việc tại gia đình.

    Tại Cana, bữa tiệc cưới được nửa chừng thì hết rượu. Tình huống ấy có thể đe doạ hạnh phúc tương lai của đôi tân hôn. May thay, Đức Kitô có mặt ở đó và theo lời yêu cầu của Mẹ Maria, Ngài đã can thiệp để biến nước thành rượu, thật nhiều và thật ngon. Câu chuyện thật an ủi: Tình yêu vợ chồng đầy hoan lạc nhưng cũng kèm theo biết bao thử thách, với phận người yếu đuối tình yêu giới hạn ấy thật mong manh. Thế nhưng ngay cả khi nó đã cạn, đã thành nhạt như nước lã, Đức Kitô vẫn có thể biến nước lã ấy thành rượu ngon một cách hết sức dồi dào.

    Thật vậy, như xưa Thiên Chúa đã đến gặp gỡ Dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành, thì nay Đấng Cứu Thế, Bạn Trăm Năm của Hội Thánh, cũng đến với đôi vợ chồng qua bí tích Hôn phối. Ngài còn ở lại với họ để họ mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau, như Ngài đã yêu thương Hội Thánh và nộp mình vì Hội Thánh.

    Trong đời sống hôn nhân và gia đình, đôi vợ chồng Công giáo được mời gọi noi gương Đức Kitô và Hội Thánh để biết sống yêu thương và tôn trọng nhau, sẵn sàng tha thứ cho nhau, cũng như sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của nhau và của con cái.

    CÂU HỎI

    1. Tình yêu vợ chồng có những đặc tính nào?

    Tình yêu vợ chồng có những đặc tính này là :

    - Một là kết hợp nên một.

    - Hai là trao hiến trọn vẹn.

    - Ba là chung thủy suốt đời.

    - Bốn là đón nhận con cái.

    2. Vợ chồng có những bổn phận nào?

    Người nam được mời gọi chu toàn bổn phận làm chồng và làm cha; người nữ được mời gọi chu toàn bổn phận làm vợ và làm mẹ.

    3. Khuôn mẫu của tình yêu vợ chồng là gì?

    Khuôn mẫu của tình yêu vợ chồng chính là sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

    Bài 5 : TRIỂN NỞ TRONG TÌNH YÊU

    —X–

    “Lòng mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,  hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7).

    Với lời cam kết: “Anh (em) nhận em (anh) làm vợ (chồng) và hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với em (anh) khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”, đôi bạn chính thức trở thành vợ chồng.

    Lời cam kết khép lại thời kỳ đính hôn, đồng thời mở ra cánh cửa cho cuộc sống hôn nhân và gia đình.

    Trong đời sống hôn nhân và gia đình, việc tiếp tục vun xới cho tình yêu lứa đôi là một việc rất quan trọng. Gia đình có được hạnh phúc hay không, chủ yếu là do hai vợ chồng có biết chăm sóc cho tình yêu thuở ban đầu, để tình yêu ấy dần dần trở thành ân sâu nghĩa nặng, không bao giờ tàn phai.

    Thế nhưng, làm sao để tình yêu dành cho nhau mỗi ngày một thêm triển nở? Làm sao để sống lời cam kết ngày thành hôn được thêm sâu xa hơn? Để tình nghĩa vợ chồng ngày càng thêm đậm đà và bền chặt, vợ chồng cần phải:

    1.  Tôn trọng nhau

    Trong ngày thành hôn, anh chị cầm tay nhau cam kết sẽ yêu thương và tôn trọng nhau không chỉ một năm, hai năm, năm năm, mà là “mọi ngày suốt đời”. Yêu thương và tôn trọng phải đi đôi với nhau. Vợ kính trọng chồng, chồng tôn trọng vợ. Cả hai quý mến, trân trọng nhau.

    Trước hết, trọng kính là phải nhìn nhận nhau. Vợ không phải là người hầu hoặc nô lệ của chồng, mà là người bạn đời. Nam và nữ khác biệt nhau, nhưng bình đẳng với nhau vì cả hai đều là hình ảnh Thiên Chúa, được tạo dựng để trở thành trợ tá của nhau, bổ túc cho nhau và hiệp thông với nhau.

    Tiếp đến, trọng kính là phải đón nhận nhau. Gia đình Nadarét được bắt đầu bằng sự đón nhận: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng sợ đón bà Maria vợ ông về...” (Mt 1,20). Không chỉ đón nhận những ưu điểm, mà còn cả những khuyết điểm, nghĩa làø đón nhận trọn vẹn con người của nhau với quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai. Thuở mới quen nhau, anh chị đã khám phá ra rất nhiều cái đẹp của nhau, những cái làm cho nhau ngưỡng mộ, si mê. Khi bước vào cuộc sống gia đình, anh chị dần dần khám phá thêm nhiều điều khác. Những điều này có thể là “mặt trái” của nhau. Đón nhận nhau ở đây, trước hết là tôn trọng những khác biệt về cách suy nghĩ, cảm nhận... qua việc trao đổi, lắng nghe, để hiểu biết con người của nhau hơn, nhờ đó giúp nhau mỗi ngày một nên hoàn thiện.

    Sự tôn trọng được diễn tả qua cách cư xử, qua lời ăn tiếng nói hằng ngày. Không phải chỉ tôn trọng nhau trong lúc thành công, thịnh vượng và mạnh khoẻ, trái lại trong lúc gian nan, thất bại và bệnh tật lại cần phải tôn trọng và nâng đỡ nhau hơn nữa. Tránh nói với nhau bằng những lời lẽ tục tằn, thô lỗ, hoặc nói xấu nhau với người thứ ba. Ngược lại, biết dành cho nhau những lời nói nhẹ nhàng âu yếm, những cử chỉ trân trọng, lịch sự, lễ độ, “tương kính như tân”.

    2. Hy sinh cho nhau

    “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Một trong những bằng chứng về tình yêu chân thật, đó là sự hy sinh, quên mình. Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là yêu nhau thật sự.

    Trời có lúc nắng, lúc mưa. Cuộc đời mỗi người cũng vậy, có lúc thịnh lúc suy, có lúc vui lúc buồn, có lúc khỏe lúc đau. Tình yêu luôn đòi hỏi sự thuỷ chung. Nếu chỉ yêu nhau lúc thịnh vượng, may mắn, mạnh khoẻ, còn khi gặp gian nan khốn khó, rủi ro, thì lìa bỏ nhau, thử hỏi như vậy có phải là yêu nhau thành thật hay không? Khi thành thật yêu nhau, người ta phải chấp nhận thực tế đó.

    “Đi đâu, cho thiếp đi cùng,

    Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”.

    Ngược lại với sự quên mình là tính ích kỷ. Kẻ ích kỷ thường độc tài, độc đoán, chỉ nghĩ đến bản thân, chỉ biết đến quyền lợi của mình. Kẻ độc tài có thể bắt người khác vâng theo ý mình, nhưng không dễ làm người khác yêu mình.

    Hy sinh quên mình là vì hạnh phúc của vợ, của chồng, của con. Hy sinh trong những vấn đề cụ thể. Hạnh phúc gia đình được xây dựng bằng những điều nhỏ mọn, bằng những hi sinh liên lỉ hằng ngày của cả đôi bên, chẳng hạn như trong việc sử dụng tiền bạc, thời giờ, mua sắm, giải trí... Đừng chỉ quyết định theo sở thích riêng của mình, bất chấp sở thích của vợ hoặc chồng.

    Khi xảy ra những mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, hy sinh có nghĩa là “một sự nhịn là chín sự lành”. Dĩ nhiên có những điều không thể nhượng bộ, nhất là trong lãnh vực luân lý hay đạo đức. Chấp nhận làm điều xấu để làm vui lòng chồng hay vợ không phải là hy sinh quên mình, nhưng là đồng loã với cái xấu và càng làm hại người kia hơn.

    Hy sinh cũng có nghĩa là tha thứ. Nhân vô thập toàn. Thánh Phaolô dạy: “Như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ cho nhau nếu người này có chuyện phải oán tráùch người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau”. (Cl 3,12-13)

    Sự hy sinh còn được biểu lộ qua việc quan tâm đến nhau, chăm sóc, lo lắng cho nhau, không quản ngại vất vả, gian khổ vì nhau, nhất là khi người bạn đời gặp thử thách, bệnh tật, khó khăn. Đây chính là lúc sống lời cam kết trung thành với nhau ngày thành hôn.

    3. Đối thoại với nhau

    Đối thoại là yếu tố quan trọng giúp duy trì và củng cố hạnh phúc trong gia đình. Nhờ đối thoại, vợ chồng, cha mẹ và con cái hiểu nhau hơn, giảm bớt những bất đồng.

    Đối thoại là nói và nghe. Cần nói cho nhau biết những điều mình suy nghĩ và mong ước, đồng thời cần nghe những suy nghĩ và mong ướccủa người khác. Nghe không phải chỉ bằng đôi tai, mà còn bằng cả khối óc và con tim.

    Những chuyện quan trọng trong gia đình vợ chồng cần phải chia sẻ, bàn bạc cùng nhau. Cha ông ta có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Làm việc gì cũng nên trao đổi và thống nhất trước khi hành động. Trong lúc bàn bạc, cần lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau, không nên độc tài, độc đoán, áp đặt ý của mình. “Trong tất cả những gì có liên hệ đến đời sống chung trong gia đình, hai vợ chồng đều có nhiệm vụ và quyền lợi bằng nhau.”

    Nếu thường xuyên chia sẻ tâm tình với nhau, vợ chồng sẽ dễ dàng đi đến chỗ thống nhất trên các lãnh vực công ăn việc làm, tổ chức đời sống, giáo dục con cái, giải trí, giao tế bạn bè, đời sống đạo đức... Nhờ đó, sẽ hiểu nhau, tin tưởng nhau và gắn bó với nhau hơn.

    4. Dành thời giờ cho nhau

    Yêu nhau, người ta luôn nghĩ đến nhau và muốn ở bên cạnh nhau. Tình yêu cần sự hiện diện. Nhiều cặp vợ chồng đã đi tới chỗ đổ vỡ vì thường phải sống xa nhau hoặc quá lo công ăn việc làm, không còn để ý gì đến nhau. Bởi vậy, vợ chồng cần ưu tiên dành thời giờ cho nhau, chuyện trò tâm sự với nhau, chia sẻ cho nhau những niềm vui, những nỗi buồn, nói lên những suy nghĩ, những ý định của mình trong cuộc sống, cũng như nâng đỡ, an ủi, khích lệ và cổ vũ lẫn nhau.

    5. Nói với nhau những lời âu yếm

    Tình yêu hai vợ chồng dành cho nhau cần được khẳng định lại mỗi ngày qua những lời nói dịu dàng, những cử chỉ âu yếm. Những lời nói đó tuy đơn sơ, nhưng lại là hương thơm ướp đậm tình yêu. Đừng đợi đến lúc ái ân mới nói những lời yêu đương và mới tỏ những cử chỉ thân mật.

    Giữa vợ chồng có trăm ngàn cách để bày tỏ tình yêu: từ lời nói đơn giản nhất : “Anh yêu em” hay “em yêu anh”, đến những biểu lộ sự ân cần, lòng biết ơn, lời nói khuyến khích, xây dựng.... Bức tranh cổ truyền Việt Nam ghi lại những mẩu đối thoại âu yếm giữa hai vợ chồng:

    Chàng ơi, trẩy sớm hay trưa?

    Để em gánh gạo tiễn đưa hành trình.

    Thương nàng đã đến ngày sinh

    Ăn ở một mình, trông cậy vào ai!

    Rồi khi sinh gái sinh trai

    Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng.

    6. Làm tròn bổn phận vợ chồng

    Thánh Phaolô khuyên các cặp vợ chồng: “Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Satan lợi dụng để cám dỗ” (1 Cr 7,3-5)

    Nên một trong thân xác là một trong những yếu tố nòng cốt của tình yêu vợ chồng. Vợ chồng luôn muốn nên một với nhau, chẳng những về tâm hồn mà cả về thể xác. Họ muốn trao hiến cho nhau, hòa tan trong nhau, để đem lại hạnh phúc cho nhau. Đừng làm cho việc chăn gối thành nhàm chán và nghèo nàn, nhưng cần làm cho nó nên mới mẻ và phong phú, để mỗi lần trao hiến cho nhau, cả hai đều cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Để được hoà hợp và hạnh phúc, vợ chồng cần phải học hỏi thêm về tâm sinh lý nam nữ qua các sách giáo dục hôn nhân và gia đình hoặc những tài liệu chuyên môn.

    7. Cầu nguyện với nhau và cầu nguyện cho nhau

    Thiên Chúa là Tình yêu. Chính Ngài đã thiết lập hôn nhân và gia đình. Ngài luôn muốn đồng hành với hai vợ chồng để giúp họ yêu thương nhau và xây dựng cuộc sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc như Ngài mời gọi họ. Đời sống cầu nguyện trong gia đình thật cần thiết, nhất là giữa hai vợ chồng với nhau. Vì thế, phải thường xuyên cầu nguyện với nhau và cầu nguyện cho nhau. “Đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” (Mt 18,20). Hạnh phúc của gia đình là có Chúa hiện diện trong nhà, chia sẻ mọi biến cố vui buồn. Ngài ở giữa như nút dây nối kết hai vợ chồng, giúp họ lắng nghe nhau, hiểu nhau, thuỷ chung với nhau và cùng nhau tiến bước, vượt qua mọi gian nan thử thách của cuộc sống.

    CÂU HỎI

    1. Vợ chồng phải làm gì để tình yêu luôn được triển nở?

    Vợ chồng cần phải:

    - Một là tôn trọng lẫn nhau.

    - Hai là hy sinh cho nhau.

    - Ba là đối thoại, chia sẻ tâm tình với nhau.

    - Bốn là dành thời giờ cho nhau.

    - Năm là nói với nhau những lời âu yếm.

    - Sáu là làm tròn bổn phận vợ chồng.

    - Bảy là cầu nguyện với nhau và cho nhau.

    Bài 6 : GIẢI QUYẾT NHỮNG XUNG ĐỘT

    —X–

    “Chúa Giêsu giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Ngài là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1, 18-19)

    Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, êm ả. Có những lúc trời quang mây tạnh, nhưng cũng có những lúc bão táp mưa sa. Cuộc sống gia đình cũng vậy. Có những lúc êm ấm hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc bất hoà, cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Chính Thánh gia ngày xưa cũng đã trải qua những kinh nghiệm đó. Chẳng hạn trước khi về chung sống với nhau, thánh Giuse phát hiện Đức Maria có thai, mà bào thai đó lại không phải là của mình. Rồi khi lạc mất Chúa Giêsu trong lần hành hương lên đền thờ Giêrusalem, thánh Giuse và Đức Maria đã phải lo lắng chạy đôn chạy đáo đi tìm con ròng rã ba ngày...

    Dù vợ chồng có yêu nhau thắm thiết, thì nhiều lúc vẫn xảy ra những bất hoà. Những bất hoà đó có thể làm cho tình yêu bị sói mòn và có thể đưa đến những đổ vỡ tai hại. Tuy nhiên, nếu biết cách giải quyết, chúng sẽ là cơ hội giúp hai vợ chồng hiểu nhau hơn và tình yêu mỗi ngày một thêm triển nở.

     1. Những nguyên nhân gây xung đột

    1.1. Những xung đột giữa vợ chồng xảy ra thường là do:

    -   Sự khác biệt về tâm sinh lý giữa nam – nữ.

    -  Sự khác biệt về cá tính của mỗi người: Người thì nhanh nhẹn và tháo vát, người thì chậm chạp và ù lì.

    -  Sự khác biệt về cách nhận thức, về quan điểm, về sở thích đối với các vấn đề trong cuộc sống, nhất là về bậc thang giá trị: Người thì coi trọng tình nghĩa, người thì đặt nặng vật chất.

    -  Sự khác biệt về nền giáo dục mà mỗi người đã nhận được, nhất là nền giáo dục trong gia đình.

    -  Những trục trặc trong đời sống chăn gối.

    -  Những lầm lỗi: Ngoài những nét đáng yêu, ai cũng có những yếu đuối, lỡ lầm và cả những thói hư tật xấu.

    -  Thiếu tổ chức trong gia đình: thiếu phân công, thiếu chia sẻ, thiếu quan tâm đến nhau, thiếu trật tự.

    -  Bất đồng trong việc quản lý và chi tiêu: Người thì tiết kiệm dè xẻn, người thì hoang phí đua đòi.

    -  Bất đồng về giáo dục con cái: Người thì quá nghiêm khắc, người thì quá chiều chuộng.

    -  Bất đồng trong cách cư xử với họ hàng hai bên: bên trọng bên khinh!

    1.2. Những xung đột trên có thể dẫn đến nhiều hậu quả tai hại:

    - Về tâm lý tình cảm: làm mất hạnh phúc trong gia đình, tình yêu bị sứt mẻ, vợ chồng lạnh nhạt với nhau.

    - Về đạo đức: dễ rơi vào những tệ nạn xã hội, ngoại tình, mất phẩm chất con người.

    - Về gia đình: lơ là chăm sóc, giáo dục con cái; tình nghĩa vợ chồng bị sứt mẻ, đưa đến ly thân, ly dị, gia đình tan vỡ...

    2. Những nguyên tắc giúp giải quyết xung đột trong gia đình

    2.1. Biện pháp ngăn ngừa

    -  Trước khi kết hôn, đôi bạn cần tìm hiểu nhau kỹ lưỡng để tránh những ảo tưởng về nhau. Mặt khác, hôn nhân cần có tình yêu thực sự, đừng biến hôn nhân thành một cuộc mua bán, đổi chác.

    -  Đôi bạn cần học hỏi, trang bị những kiến thức nuôi dưỡng tình yêu và bàn hỏi với những người khôn ngoan có kinh nghiệm, để biết cách sống hoà hợp và giải quyết những bất hoà trong gia đình.

    -  Đôi bạn cần sửa đổi những thói hư tật xấu và cố gắng mỗi ngày một nên hoàn thiện hơn.

    2.2. Khi xảy ra xung đột:

    Thái độ của mỗi người:

    - Tự chủ: Kìm hãm tính nóng nảy và tự ái. Tránh phản ứng vội vàng, làm cho tình hình thêm căng thẳng.

    -  Có thiện chí muốn giải quyết: Vợ chồng tranh cãi là nhằm tìm ra điều tốt hơn để đi đến chỗ hợp nhất, chứ không phải để ăn thua nhau hoặc để hạ nhục nhau, đi đến chia rẽ xa cách nhau. Trong cuộc tranh cãi, đừng vì tự ái mà trở nên cố chấp khư khư bảo vệ sai lầm của mình.

    2.3. Phương cách giải quyết:

    -  Đối thoại: Biết trình bày và lắng nghe nhau. Đừng bắt người khác phải tuyệt đối tuân theo ý riêng của mình, nhưng biết lắng nghe và tìm hiểu ý kiến, quan điểm của người kia.

    -  Nhắm mục tiêu chính: Giới hạn chuyện nào vào chuyện đó, không nhắc lại chuyện cũ, không “bới lông tìm vết”.

    -  Chấp nhận khuyết điểm của mình: Can đảm nhận ra những lỗi lầm, sai phạm của mình để cố gắng sửa đổi.

    -  Hàn gắn, làm lành: Sau khi tranh cãi, xung đột với nhau, vợ chồng cần tìm cách làm hòa ngay. Đừng để bầu khí lạnh lùng hờn giận kéo dài, chỉ gây thêm đau khổ cho mọi người và cho chính mình.

    -  Nhờ trung gian hoà giải: Cần chọn người có uy tín, biết phân xử hợp tình hợp lý, hiểu cả hai bên để đưa ra lời khuyên bảo chân tình giúp hai người chấm dứtmâu thuẫn.

    -  Cầu nguyện: Nếu hai vợ chồng biết cầu nguyện chung với nhau, chắc chắn họ sẽ có được sự bình tĩnh để ngồi thảo luận ôn hoà với nhau, đồng thời sẽ dễ nhận ra được ý muốn của Chúa đối với vấn đề đang tranh cãi.

    Giải quyết những xung đột trong gia đình là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng và thiện chí của cả hai. Nếu khi mới bước vào cuộc sống hôn nhân và gia đình, hai vợ chồng tập thói quen ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề nho nhỏ thì sau này sẽ có nhiều kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề to lớn hơn. Những dịp như thế sẽ giúp hai vợ chồng hiểu nhau hơn, đồng thời cũng giúp mỗi người gọt giũa cái “tôi” nhiều tự ái và vị kỷ, hầu cuộc sống gia đình được hài hòa, êm ấm và hạnh phúc.

    CÂU HỎI

    1. Vợ chồng cần có thái độ nào khi xảy ra xung đột?

    Vợ chồng cần giữ những nguyên tắc này :

    - Một là tự chủ.

    - Hai là có thiện chí muốn giải quyết.

    - Ba là đối thoại với nhau.

    - Bốn là chấp nhận khuyết điểm của mình.

    - Năm là cố gắng hàn gắn và làm lành.

    - Sáu là nhờ người làm trung gian hoà giải.

    - Bảy là cầu nguyện để biết cách giải quyết theo tinh thần của Chúa.

    Bài 7 : SỰ PHÂN LY VỢ CHỒNG

    —X–

    “Còn những ai đã kết hôn, thì tôi truyền –thật ra không phải tôi, mà là Chúa - là vợ không được bỏ chồng, và giả như đã bỏ chồng thì phải ở độc thân, hay phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ.” (1 Cr 7,10-11)

    Trong Tông huấn về Gia Đình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói: “Ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình liên hệ đến người nam và người nữ trong đời sống cụ thể hằng ngày của họ... Vì thế, nhằm chu toàn viêc phục vụ của mình, Hội Thánh tìm cách để biết được những hoàn cảnh trong đó hôn nhân và gia đình đang sống.”

    Qua những lời trên, ngài nói đến những hoàn cảnh thuận lợi cho hạnh phúc gia đình, cũng như những tình huống xói mòn và làm cho gia đình tan vỡõ. Như người mẹ đối với con cái, Hội Thánh phấn khởi, khi thấy các gia đình được yên vui hạnh phúc, đồng thời cũng không ngớt âu lo, khi thấy những gia đình vợ chồng ly tán. Ngay cả những gia đình đã hay sắp tan vỡ, Hội Thánh cũng tìm cách hàn gắn, cứu chữa hay ít nhất tìm cách tạo cho họ một nếp sống phù hợp với luật Chúa để có được hạnh phúc.

    Trong bài này, dựa trên giáo luật, chúng ta sẽ bàn về những gia đình phân ly: Những trường hợp nào Hội Thánh có thể tháo gỡ dây hôn phối? Vấn đề ly thân, ly dị và tái hôn sau khi ly dị thì sao?

    1.  Những trường hợp Hội Thánh có thể tháo gỡ dây hôn phối

    1.1. Trường hợp không thể tháo gỡ:

    Giữa hai người đã chịu bí tích Rửa tội, “hôn nhân đã ký kết và hoàn hợp thì không thể bị tháo gỡ bởi bất cứ quyền lực nhân loại nào, bất cứ vì lý do gì, ngoại trừ cái chết.”

    Bởi vậy, Hội Thánh không có quyền cho phép ly dị các cuộc hôn nhân đã trọn vẹn. Hôn nhân trọn vẹn tức là:

    - Hôn nhân đã thành sự.

    - Là bí tích.

    - Đã ăn ở với nhau.

    Không trọn vẹn là khi thiếu một trong ba điều trên.

    1.2. Trường hợp có thể tháo gỡ:

    Đối với những cuộc hôn nhân không trọn vẹn, Hội Thánh có quyền tháo gỡ trong những trường hợp sau:

    1.2.1. Hôn nhân giữa hai người Công giáo, hoặc một người Công giáo và một người không Công giáo, đã thành sự nhưng chưa ăn ở với nhau.

    1.2.2. Hôn nhân giữa hai người chưa được rửa tội, đã thành hôn và đã ăn ở với nhau, rồi sau đó một người trở lại đạo và người kia không muốn chung sống. Đây là trường hợp thuộc “đặc ân thánh Phaolô” (1Cr 7,15). Hôn nhân chỉ được tháo gỡ khi người mới theo đạo lấy một người khác.

    1.2.3. Ngoài ra, có những cuộc hôn nhân vốn đã không thành sự ngay từ đầu, vì mắc phải một hoặc nhiều ngăn trở như đã kể ở trên. Đối với những cuộc hôn nhân này, Hội Thánh có quyền giải tán.

    2.  Ly thân

    Hội Thánh không cho phép vợ chồng ly dị nhau. Tuy nhiên, có những hoàn cảnh thực tế hai vợ chồng không thể tiếp tục sống chung được vì nhiều lý do khác nhau. Chẳng hạn như:

    - Do ngoại tình.

    - Do gây nguy hiểm trầm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái.

    - Hay nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên quá cơ cực, không thể chịu đựng nổi.

    Trong những trường hợp này, Giáo quyền (Giám mục giáo phận hoặc vị Thẩm phán) chấp nhận cho họ ly thân và không sống chung nữa (tạm thời hay vĩnh viễn). Tuy nhiên, họ vẫn là vợ chồng của nhau trước mặt Thiên Chúa. Họ không được tự do để kết hôn với người khác bao lâu người chồng hay vợ mình còn sống. Hôn nhân tiếp sau không những bị cấm mà còn bất thành nữa.

    Trong hoàn cảnh khó khăn, giải pháp tốt nhất, nếu có thể, là hòa giải với nhau. Cộng đoàn tín hữu được mời gọi giúp họ sống đời Kitô hữu trong hoàn cảnh ấy, trung thành với dây liên kết hôn nhân không thể tháo gỡ được.

    3.  Vấn đề ly dị

    Hầu hết các nước trên thế giới ngày nay đều có luật cho phép ly dị, và thực tế cho thấy: không những các gia đình lương dân xin ly dị mà nhiều người Công giáo cũng đã ly dị theo luật đời. Hội Thánh trung thành với lời dạy của Đức Kitô: “Ai bỏ vợ mình mà lấy vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình” ( Mc 10,11-12) nên không thể chấp nhận việc ly dị. Nếu hôn nhân lần đầu đã thành sự, Hội Thánh không thể công nhận liên kết mới là thành sự.

    4. Tái hôn sau khi li dị

    Nếu những người đã ly dị, tái hôn theo luật đời, họ rơi vào tình trạng khách quan đi ngược lại luật Thiên Chúa. Vì thế, bao lâu còn sống trong tình trạng này, họ không được rước lễ, đồng thời cũng không thể đảm nhận một số trách nhiệm trong Hội Thánh. Tuy nhiên, Hội Thánh rất mong họ hoán cải vì họ đã vi phạm đến dấu chỉ giao ước và sự trung thành với Đức Kitô, đồng thời họ phải cam kết sống tiết dục trọn vẹn, để được giao hòa nhờ bí tích thống hối.

    “Đối với những tín hữu đang sống trong hoàn cảnh như vậy, mà vẫn giữ đức tin và ao ước giáo dục con cái theo tinh thần Công giáo, linh mục và cộng đoàn phải có thái độ ân cần đặc biệt, để họ đừng bị coi như đã tách lìa khỏi Hội Thánh và nếp sống đạo mà họ có thể và phải giữ vì đã được rửa tội: “Họ được mời gọi nghe Lời Chúa, tham dự hy tế thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các công cuộc bác ái và các sáng kiến của cộng đoàn để phục vụ công lý, giáo dục con cái trong đức tin công giáo, vun trồng tinh thần sám hối và làm các việc đền tội, để ngày qua ngày thành khẩn nài xin ân sủng Thiên Chúa.”

    CÂU HỎI

    1. Hôn nhân trọn vẹn và không trọn vẹn là thế nào?

    Hôn nhân trọn vẹn là hôn nhân đã thành sự, đã là một bí tích và đã ăn ở với nhau. Còn hôn nhân không trọn vẹn là khi thiếu một trong ba điều trên.

    2. Hội Thánh có quyền tháo gỡ những cuộc hôn nhân đã trọn vẹn không?

    Hội Thánh không có quyền tháo gỡ những cuộc hôn nhân đã trọn vẹn, vì đó là luật Thiên Chúa.

    3. Hội Thánh có quyền tháo gỡ những cuộc hôn nhân nào?

    Hội Thánh có quyền tháo gỡ những những cuộc hôn nhân không trọn vẹn, trong những trường hợp sau:

    -           Một là hôn nhân giữa hai người Công giáo, hoặc một người Công giáo và một người không Công giáo, đã thành sự nhưng chưa ăn ở với nhau.

    -           Hai là hôn nhân tự nhiên giữa hai người chưa được rửa tội. Đây là trường hợp thuộc “đặc ân thánh Phaolô”.

    -           Ba là có những cuộc hôn nhân vốn đã không thành sự ngay từ đầu, vì mắc phải một hoặc nhiều ngăn trở như đã kể ở trên.

    4. Ly thân là gì?

    Ly thân là khi hai người không còn chung sống với nhau, nhưng vẫn là vợ chồng.

    5. Hội Thánh có thể cho ly thân không?

    Trong một số trường hợp đặc biệt, Hội Thánh có thể cho ly thân.

    6. Những người đã ly thân có được phép kết hôn với người khác nữa không?

    Không, vì họ vẫn là vợ chồng trước mặt Thiên Chúa.

    7. Hội Thánh có thái độ nào đối với những đôi vợ chồng đã ly dị và tái hôn?

    Trung thành với lời dạy của Đức Kitô, Hội Thánh không chấp nhận việc ly dị, và cũng không công nhận hôn nhân mới là thành sự.

    8. Hội Thánh mong ước gì nơi họ?

    Hội Thánh ân cần mời gọi họ lắng nghe Lời Chúa, tham dự thánh lễ, cầu nguyện, thực thi bác ái, giáo dục con cái trong đức tin và sớm hoán cải.

    Bài 8: HÔN NHÂN TỰ NHIÊN

    —X–

    1. Hôn nhân là gì?

    Hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống yêu thương và giúp đỡ nhau trong tình nghĩa vợ chồng; để sinh sản và giáo dục con cái trong nhiệm vụ làm cha làm mẹ.

    2.  Mục đích của hôn nhân

    Tự bản chất, hôn nhân hướng đến hai mục đích: Lợi ích của đôi vợ chồng và lưu truyền nòi giống (sinh sản và giáo dục con cái). Hai mục đích này luôn đi đôi với nhau, mặc dù có những lúc mục đích này được nhấn mạnh hơn mục đích kia.

     2.1. Trọn đời yêu thương và bổ túc cho nhau

    Nhờ khế ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19, 6; x. St 2, 24), và được mời gọi mỗi ngày một trở nên gắn bó với nhau hơn qua việc nỗ lực sống cam kết trao hiến trọn vẹn cho nhau.

    Sự hiệp thông vợ chồng ăn rễ sâu từ sự thu hút tự nhiên về giới tính, cũng như từ sự bổ túc lẫn nhau giữa nam và nữ, được nuôi dưỡng nhờ những nỗ lực của đôi bạn muốn chia sẻ cho nhau trọn cả bản thân trong suốt cuộc đời.

    2.2. Sinh sản và giáo dục con cái

    Tự bản chất, hôn nhân hướng đến việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh hoàn thành hôn nhân.

    Con cái là ân huệ cao quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ. Tình yêu vợ chồng còn phong phú nhờ những hoa quả của đời sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên được cha mẹ truyền lại cho con cái qua việc giáo dục. Theo nghĩa này, mục tiêu nền tảng của hôn nhân và gia đình là phục vụ cho sự sống và hạnh phúc.

    CÂU HỎI

    1.Hôn nhân là gì?

    Hôn nhân là giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với đầy đủ tự do ưng thuận và ý thức trách nhiệm, để trở thành vợ chồng.

    2. Ai đã lập nên hôn nhân?

    Chính Thiên Chúa đã lập nên hôn nhân khi dựng nên loài người có nam có nữ, và mời gọi họ sống yêu thương.

    3. Yếu tố căn bản của hôn nhân là gì?

    Yếu tố căn bản của hôn nhân chính là tình yêu, vì Hôn nhân được thiết lập do tình yêu và mục đích cuối cùng của Hôn nhân cũng chính là tình yêu.

    4. Hôn nhân có những mục đích nào?

    Hôn nhân có hai mục đích này:

    - Một là yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau.

    - Hai là cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái.

    Bài 9:  HÔN NHÂN CÔNG GIÁO

    —X–

    “Bởi thế, người ta lìa bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.” (Ep 5,31-32)

    Khi một người nam và một người nữ kết hôn, họ trở thành vợ chồng theo luật tự nhiên. Hôn nhân của họ là một khế ước, có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Đối với người Kitô hữu, hôn nhân không chỉ là một khế ước, mà còn là một bí tích. Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Hôn nhân là bí tích tình yêu... Khi vợ chồng nên một trong hôn nhân, cả hai không còn là hình ảnh dưới trần nữa, mà là hình ảnh của Chúa trên trời.”

    1. Hôn nhân Công giáo là một bí tích

    Từ xưa đến nay, hầu như nền văn hoá nào cũng coi hôn nhân là việc linh thiêng. Vì thế, trước khi về chung sống với nhau, cô dâu chú rể thường xin trời đất, thần linh hoặc ông bà tổ tiên chứng giám và phù hộ cho cuộc hôn nhân của mình qua một nghi lễ công khai và long trọng.

    Trong Cựu Ước, giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài thường được ví như một cuộc hôn nhân thuỷ chung, duy nhất. Sang Tân Ước, hôn nhân được coi là hình ảnh sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Đức Kitô được ví như chàng rể của giao ước mới. Còn Hội Thánh được ví như cô dâu, đã được Đức Kitô yêu thương đến hy sinh mạng sống.

    Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Chúa Giêsu đã có mặt trong một tiệc cưới tại Cana và đã làm dấu lạ đầu tiên, biến nước thành rượu để giúp hai họ nối tiếp cuộc vui.  Sự hiện diện này được Hội Thánh hiểu như là một chứng thực của Đức Kitô đối với giá trị hôn nhân, đồng thời cũng tiên báo sự hiện diện thường xuyên của Ngài trong đời sống hôn nhân.

    Trong khi rao giảng, Chúa Giêsu dạy rõ ràng về ý nghĩa nguyên thủy của việc phối hợp giữa người nam và người nữ như thuở ban đầu Đấng Tạo Hóa đã muốn. Sự phối hợp này là bất khả phân ly. Việc Môsê cho phép bỏ vợ là một nhượng bộ trước lòng chai dạ đá của người nam”.

    Khi tái lập trật tự ban đầu của công trình sáng tạo đã bị tội lỗi làm xáo trộn, Chúa Giêsu đã ban sức mạnh và ân sủng để các đôi vợ chồng sống đời hôn nhân trong chiều kích mới của Nước Thiên Chúa. Ân sủng của hôn nhân Kitô giáo là hoa quả của Thánh Giá Đức Kitô, nguồn mạch mọi đời sống Kitô hữu.

    Thánh Phaolô cho thấy điều đó khi nói: “Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, và hiến mình vì Hội Thánh để thánh hóa Hội Thánh” (Ep 5, 25-26). Ngài còn nói thêm: “Bởi thế, người ta lìa bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.” (Ep 5, 31-32).

    Toàn bộ đời sống Kitô giáo mang dấu ấn của “tình yêu hôn nhân” giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Bí tích Thánh tẩy, cửa ngõ dẫn vào Dân Thiên Chúa, cũng đã là một mầu nhiệm “hôn nhân”. Có thể nói đó là nghi thức thanh tẩy trước khi bước vào tiệc cưới là bí tích Thánh Thể. Hôn nhân Kitô giáo trở thành dấu chỉ giao ước giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Hôn nhân giữa hai người đã được rửa tội là một bí tích thực sự của Giao ước Mới, vì nó biểu thị giao ước giữa Đức Kitô và Hội Thánh, và thông ban ân sủng cho họ.

    Như vậy, ta có thể nói, Thiên Chúa đã thiết lập khế ước hôn nhân ngay trong vườn địa đàng, giữa người nam và người nữ đầu tiên. Còn Chúa Giêsu, Ngài đã nâng hôn ước đó lên hàng Bí tích.

    Qua bí tích hôn phối, tình yêu của hai vợ chồng được Thiên Chúa đóng ấn; họ nhận được những ơn siêu nhiên giúp họ sống ơn gọi hôn nhân và gia đình, và trở nên dấu chỉ mầu nhiệm Đức Kitô kết hiệp với Hội Thánh.

    2. Đặc tính của hôn nhân Công giáo

    Tình yêu giữa hai vợ chồng Công giáo có ý nghĩa rất phong phú và sâu sắc, vì bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa và rập theo khuôn mẫu tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Tình yêu đó có hai đặc tính là đơn nhất và bất khả phân ly.

    2.1. Đơn nhất

    Đơn nhất nghĩa là một vợ một chồng. Tự bản chất, tình yêu vợ chồng đòi hỏi sự đơn nhất và bất khả phân ly. “Họ không còn phải là hai, nhưng là một xương một thịt”. Họ được mời gọi không ngừng lớn lên trong tình hiệp thông với nhau qua việc mỗi ngày trung thành sống lời cam kết hôn nhân, là trao hiến trọn vẹn cho nhau. Sự hiệp thông này được củng cố, thanh luyện và hoàn thiện nhờ bí tích Hôn phối đem lại sự hiệp thông trong Đức Kitô. Sự hiệp thông này càng thâm sâu hơn nhờ cùng chia sẻ một đức tin và cùng đón nhận Mình Thánh Chúa.

    “Phải nhìn nhận sự bình đẳng giữa vợ chồng trong tình tương thân tương ái trọn vẹn, để nhờ đó biểu hiện rõ ràng tính đơn nhất của hôn nhân đã được Đức Kitô xác nhận. Đa thê là đi ngược với tình yêu vợ chồng, cũng như với sự bình đẳng giữa hai vợ chồng.”

    2.2. Bất khả phân ly

    Bất khả phân ly nghĩa là không thể ly dị. “Lý do sâu xa nhất đòi hỏi hai vợ chồng phải chung thủy chính là sự trung tín của Thiên Chúa với giao ước, và sự trung tín của Đức Kitô với Hội Thánh. Nhờ bí tích Hôn phối, hai vợ chồng được ban ơn để diễn tả và làm chứng cho sự trung tín ấy. Do bí tích, tính bất khả phân ly của hôn nhân tiếp nhận một ý nghĩa mới và sâu xa hơn.”

    Ngoài ra sự liên kết mật thiết giữa hai vợ chồng, cũng như lợi ích của con cái, buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín với nhau.

    Chung thuỷ suốt đời với người phối ngẫu là một trong những đặc điểm nổi bật của hôn nhân Công giáo, đồng thời còn có ý nghĩa đặc biệt hơn đối với thế giới hiện nay, khi mà ly dị thường được coi là giải pháp bình thường cho những khó khăn hoặc thất bại trong đời sống hôn nhân. Quả thực, đối với nhiều trường hợp, chung thuỷ là một thách đố lớn lao và phải cậy dựa vào ơn Chúa, vì chỉ nhờ sức riêng của mình mà thôi thì không đủ. Trong đời sống hôn nhân, đôi vợ chồng cần nhớ rằng sự liên kết với nhau không phải chỉ do quyết tâm của họ mà còn là kết quả của ơn Chúa. “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly”(Mt 19,6). Hội Thánh không ngừng cầu nguyện cho các đôi vợ chồng được trung thành với nhau suốt đời. Ngược lại, chính Hội Thánh cũng được nâng đỡ luôn trung tín với Chúa Giêsu nhờ sự chung thuỷ của các đôi vợ chồng.

    3. Hiệu quả bí tích Hôn phối

    Do hôn nhân hợp pháp, giữa vợ chồng phát sinh một mối dây ràng buộc vĩnh viễn và độc nhất tự bản chất. Hơn thế nữa, trong Kitô giáo, vợ chồng được Thiên Chúa tăng sức và thánh hiến bằng một bí tích riêng biệt, để chu toàn những bổn phận và sống xứng đáng bậc sống của mình.

    4. Bí tích Hôn phối đem lại hai hiệu quả:

    4.1. Dây hôn phối

    “Sự ưng thuận tự do, qua đó đôi phối ngẫu tự trao hiến và tiếp nhận nhau, được chính Thiên Chúa đóng ấn. Từ hôn ước của họ phát sinh một định chế. Định chế này đã được chính Thiên Chúa ấn định và có giá trị trước mặt xã hội. Hôn ước được liên kết với giao ước Thiên Chúa ký kết với nhân loại: Tình yêu vợ chồng đích thực được hoà nhập trong tình yêu Thiên Chúa.”

    “Dây hôn phối do chính Thiên Chúa liên kết, nên hôn nhân thành sự và hoàn hợp, giữa hai người đã được rửa tội, không bao giờ được tháo gỡ. Dây liên kết này là kết quả của việc hai người tự nguyện kết hôn và do sự hoàn hợp của hôn phối. Đây là một thực tại không thể đảo ngược, và trở thành một giao ước được Thiên Chúa trung tín bảo đảm. Hội Thánh không có quyền nói ngược lại sự an bài khôn ngoan của Thiên Chúa.”

    4.2. Ân sủng của bí tích Hôn phối

    Ân sủng đặc biệt của bí tích Hôn phối kiện toàn tình yêu vợ chồng, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly của họ. “Nhờ ân sủng này, họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái.

    Đức Kitô là nguồn mạch ân sủng đặc biệt này. Như xưa, Thiên Chúa đến gặp Dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành, thì ngày nay, Đấng Cứu Thế, Bạn Trăm Năm của Hội Thánh cũng đến với đôi vợ chồng qua bí tích Hôn phối. Ngài ở lại với họ, ban cho họ sức mạnh để họ vác thập giá theo Ngài, để họ chỗi dậy mỗi khi sa ngã, để họ tha thứ cho nhau, mang gánh nặng cho nhau, “phục tùng nhau trong sự kính sợ Đức Kitô” (Ep 5,21), và yêu thương nhau với một tình yêu siêu nhiên, tế nhị và phong phú. Trong khi họ vui hưởng tình yêu và cuộc sống gia đình, Ngài ban cho họ, ngay từ đời này, được nếm trước hạnh phúc Nước Trời.”

    CÂU HỎI

    1. Hôn nhân Công giáo là gì?

    Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ, thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình.

    2.Hôn nhân Công giáo có những đặc tính nào?

    Hôn nhân Công giáo có hai đặc tính này:

    - Một là đơn nhất, nghĩa là một vợ một chồng.

    - Hai là bất khả phân ly, nghĩa là trung thành yêu thương nhau trọn đời.

    3. Bí tích Hôn phối ban cho vợ chồng những ơn nào?

    Bí tích Hôn phối ban ơn giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau, như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, kiện toàn tình yêu tự nhiên, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly và thánh hoá họ trong đời sống siêu nhiên.

    Bài 10 : HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO

    —X–

    “Nếu anh em nào có vợ ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì chớ rẫy vợ. Và người vợ nào có chồng ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì đừng bỏ chồng. Vì chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có đạo.” (1 Cr 7, 12-14)

    Thế giới ngày nay được đánh dấu bằng những mối giao lưu nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là trong lãnh vực truyền thông đại chúng. Con số những cuộc hôn nhân giữa những người khác đạo càng ngày càng gia tăng. Đây là một trong những ưu tư đặc biệt của Hội Thánh Công giáo đối với đời sống hôn nhân và gia đình của con cái mình, vì những cuộc hôn nhân này thường gặp nhiều khó khăn do những khác biệt về niềm tin.

    1. Thế nào là hôn nhân khác tôn giáo?

    Hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân giữa một bên là Công giáo và một bên không phải là Công giáo.

    - Nếu bên không Công giáo, nhưng đã được rửa tội trong Hội Thánh Tin Lành hay Chính Thống, thì hôn nhân này được gọi là hôn nhân dị tín hay hôn nhân hỗn hợp.

    - Nếu bên không Công giáo chưa được rửa tội, thì hôn nhân này được gọi là hôn nhân dị giáo hay hôn nhân khác đạo. Ví dụ hôn nhân giữa một người Công giáo và một người Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo v.v.... kể cả trường hợp một người không theo tôn giáo nào.

    2. Hậu quả của những cuộc hôn nhân khác tôn giáo

    Sau đây là 2 trường hợp có thể xảy ra:

    2.1. Hôn nhân sẽ hạnh phúc, nếu hai bên biết tôn trọng nhau, “đạo ai người ấy giữ”. Phía không Công giáo thực sự để cho bạn mình được tự do thờ phượng và chăm sóc đức tin cho con cái như đã thoả thuận lúc ban đầu. Phía Công giáo sống thật tốt và giúp phía không Công giáo nhận được ơn Chúa.

    2.2. Hôn nhân có thể gặp nguy hiểm và tan vỡ, nếu hai bên không chịu nhân nhượng nhau trước những mối bất đồng do sự khác biệt về niềm tin tạo ra. Phía Công giáo có thể trở nên nguội lạnh và đi đến chỗ bỏ đạo.

    3. Giáo luật về Hôn nhân khác đạo

    Tại Việt Nam, ngày nay vẫn có nhiều vị hữu trách và cha mẹ tỏ thái độ quá dè dặt, khắt khe đối với con cái trong hôn nhân khác tôn giáo: “Bắt buộc trở lại đạo Công giáo mới cho phép làm đám cưới!” Một số khác lại quá dễ dãi: “Đạo ai nấy giữ, chẳng cần chuẩn chiếc gì hết!” Cả hai thái độ trên đều không phù hợp với ý muốn của Hội Thánh Công giáo. Hội Thánh có phép chuẩn cho những hôn nhân khác tôn giáo. Theo luật hiện nay của Hội Thánh:

    - Hôn nhân hỗn hợp chỉ hợp pháp khi có phép rõ ràng của giáo quyền.

    - Hôn nhân khác đạo chỉ thành sự khi có phép chuẩn rõ ràng của giáo quyền.

    Bởi vậy, nếu ở trong trường hợp Hôn nhân hỗn hợp hoặc hôn nhân khác đạo, đôi bạn cần trình bày với cha xứ để được hướng dẫn về thủ tục xin phép chuẩn nơi Đức Giám Mục Giáo phận.

    Muốn được phép chuẩn:

    - Hai đương sự phải hiểu biết, chấp nhận mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân theo giáo lý Công giáo

    - Bên Công giáo cam kết giữ đức tin của mình, bảo đảm cho con cái được rửa tội và giáo dục trong Hội Thánh Công giáo.

    - Cũng cần phải cho bên không Công giáo biết rõ những điều ấy.

    4.  Tại sao Hội Thánh bận tâm và tỏ ra dè dặt?

    Nhìn vào những quy định trên, ta thấy thái độ của Hội Thánh là một sự nhượng bộ vì không thể tránh được, chứ không hề khuyến khích. Tuy nhiên, người ta có cảm tưởng Hội Thánh Công giáo không “công bằng” khi đòi hỏi đức tin Công giáo phải được ưu tiên!

    Hội Thánh lấy quyền gì để đòi hỏi hai bên phải thoả thuận như thế? Có thể nói đó là như quyền của bậc cha mẹ trước hạnh phúc của con cái, chẳng khác nào việc trao đổi giữa hai gia đình trước ngày đính hôn, mỗi bên nêu rõ nguyện vọng của mình vì hạnh phúc lâu bền của con cái.

    Thế nhưng, tại sao Hội Thánh lại phải bận tâm đến như vậy? Thưa vì những lý do sau:

    - Hội Thánh biết rằng, bên cạnh tình yêu, niềm tin tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng đối với đời sống hôn nhân và gia đình, bởi vì tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến lối suy nghĩ, cách hành xử, mà còn ảnh hưởng đến những chọn lựa trước những vấn đề của cuộc sống, nhất là trong việc giáo dục con cái. Do khác biệt quan điểm một cách sâu xa như thế, những cuộc hôn nhân khác tôn giáo thường gặp nhiều trở ngại, khó đạt được hạnh phúc và nếu tan vỡ thì phía người Công giáo sẽ bị thiệt thòi nhiều hơn, vì họ không thể lập gia đình lại, bao lâu người kia còn sống.

    Thực vậy, tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Để gia đình được hạnh phúc, cả hai vợ chồng cần phải nỗ lực và góp sức. Đây không phải là chuyện dễ, vì trong thực tế có khá nhiều khác biệt giữa họ: khác biệt về giới tính, về tính tình, về giáo dục, về gia đình, về lối sống v.v.... Nếu cùng chung một niềm tin tôn giáo, họ sẽ có được một nền tảng vững chắc, giúp vượt qua những khó khăn và thử thách, biết dùng những khác biệt để bổ túc cho nhau và làm cho cuộc sống gia đình thêm phong phú. Lúc ấy, người bạn đời cũng là người bạn đạo, cả hai cùng mang một chí hướng, đó là xây dựng tổ ấm gia đình hạnh phúc trong yêu thương và hiệp nhất.

    -  Trong hôn nhân hỗn hợp giữa một người Công giáo và một Kitô hữu thuộc hệ phái khác (Tin Lành, Chính Thống...) những khó khăn cũng không nhỏ. Những khó khăn này xuất phát từ sự chia rẽ giữa các Kitô hữu đến nay vẫn chưa giải quyết được. Đôi vợ chồng có thể cảm nghiệm được thảm kịch ấy ngay trong gia đình của mình. Tuy nhiên, những khó khăn này có thể vượt qua, nếu đôi bạn biết cố gắng kết hợp những gì tốt đẹp đã lãnh nhận nơi cộng đoàn mình và cùng nhau học hỏi, chia sẻ để giúp nhau sống trung thành với Đức Kitô.

    -  Trong hôn nhân khác đạo giữa một người Công giáo và một người không tin vào Đức Kitô, sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Những bất đồng quan điểm về niềm tin và hôn nhân, có thể dẫn đến những căng thẳng trong gia đình, nhất là việc giáo dục con cái. Hội Thánh xác tín rằng: đức tin Kitô giáo mà con cái mình đã nhận được là một quà tặng vô giá Thiên Chúa ban. Hội Thánh không muốn đức tin ấy bị mai một, nhưng luôn có những điều kiện thuận lợi để được tồn tại và phát triển. Vì thế, Hội Thánh luôn đòi hỏi phải thoả thuậïn với nhau trước khi bước vào hôn nhân có phép chuẩn.

    5. Những thái độ sống

    5.1. Đối với nhau

    Hôn nhân khác tôn giáo là một thách đố lớn với nhiều khó khăn cần vượt qua. Tuy nhiên, nếu đôi bạn đã suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng, cuối cùng vẫn không thể lìa xa nhau. Tình yêu quả là một mầu nhiệm! Đôi bạn hãy mở rộng cõi lòng đón nhận cuộc sống và tích cực cư xử tốt với nhau.

    Phía Công giáo hãy can đảm đón nhận điều Hội Thánh chờ đợi họ: Làm chứng cho Tin Mừng. Vào thời buổi khó khăn hiện nay, cuộc sống tốt lành đầy tin yêu của người bạn đời sẽ là lời chứng sống động và hùng hồn, át hẳn những gương xấu trong Hội Thánh. Ước gì tình huống của hai người trở thành dịp may cho phía không Công giáo đặt vấn đề về Thiên Chúa của người Công giáo. Ước gì chính thái độ nghiêm túc của Hội Thánh đối với những cuộc hôn nhân khác đạo khiến người trong cuộc đặt câu hỏi về tầm quan trọng của đức tin Công giáo.

    Phía Công giáo đừng quên rằng mình phải chịu trách nhiệm về đức tin của bạn mình. Họ phải biết trân trọng trao vào tay bạn mình một quyển Tin Mừng hay một quyển Kinh Nguyện Gia đình và tha thiết cầu nguyện cho bạn mình mỗi ngày. Hơn nữa, còn phải học hỏi giáo lý và sống đạo cách sâu xa và triệt để hơn. Đừng quên rằng mỗi người phải cố gắng tìm hiểu những ưu điểm lòng tin của bạn mình, để thêm tôn trọng và quý mến nhau. Chỉ khi nào ta biết chân thành đón nhận ưu điểm của bạn, ta mới có thể giúp bạn mở lòng đón nhận ưu điểm của ta. Với Ơn Chúa, thái độ ấy sẽ giúp đôi bên làm phong phú cho nhau.

    5.2. Với gia đình hai bên

    Sự khác biệt tôn giáo không chỉ tạo khoảng cách giữa hai người mà còn tạo khoảng cách với gia đình của bạn mình, một khoảng cách vô hình nhưng đôi khi hết sức to lớn. Đây là chỗ để phía Công giáo gia tăng lòng trông cậy vào ơn Chúa.

    Đã chọn lựa một cuộc hôn nhân đầy khó khăn, phía Công giáo phải luôn tin tưởng vào ơn Chúa. “Ai thực sự cậy trông Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng”. Với lòng khiêm nhường, hãy cầu nguyện, hãy sống chân thành và khi có dịp, đừng ngại chia sẻ niềm tin cho những người mình yêu mến. Cách riêng trong việc thờ cúng tổ tiên, cả hai cần học hiểu kỹ quan điểm của Hội Thánh Công giáo và chu toàn phận vụ mình trong gia tộc cách tận tuỵ.

    Tóm lại, mỗi bên cần phải làm hết sức để giúp gia đình mình hiểu và quý trọng thái độ tôn giáo của bạn mình.

    5.3. Với cộng đoàn giáo xứ

    Khi lập gia đình với người khác đạo, phía Công giáo có thể bỗng dưng thấy mình trở nên xa cách với mọi người trong giáo xứ. Cần vượt thắng tâm trạng ấy, bởi lẽ đây chính là lúc họ cần gắn bó hơn với giáo xứ để được nâng đỡ và cầu nguyện. Hãy thắt chặt tình thân với một nhóm gia đình trong giáo xứ, luôn gần gũi nhau như những người bạn nghĩa thiết. Hãy tận dụng những cơ hội sẵn có trong tình bạn để quan hệ giữa gia đình nhỏ của mình với cộng đoàn được tự nhiên. Sự gắn bó ấy sẽ là yếu tố quan trọng nâng đỡ và đồng hành với đôi bạn trong cuộc sống hạnh phúc.

    6. Kỳ vọng của Mẹ Hội Thánh

    Những cuộc hôn nhân khác đạo bao giờ cũng có nhiều khó khăn, dù vậy Hội Thánh luôn tin tưởng vào ơn Chúa và cầu nguyện cho họ. Hội Thánh tin tưởng ở thiện chí của họ và ước mong rằng “chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có đạo” (1Cr 7,14). “Thật là một niềm vui lớn cho bên Công giáo và cho Hội Thánh nếu “việc thánh hoá này” đưa người không Công giáo tự nguyện đón nhận đức tin Công giáo. Chính tình yêu hôn nhân chân thành, việc khiêm tốn và kiên nhẫn thực thi những nhân đức gia đình và siêng năng cầu nguyện có thể chuẩn bị cho người không có đạo được ơn làm con Chúa.”

    CÂU HỎI

    1. Tôn giáo có vai trò nào trong đời sống hôn nhân và gia đình?

    Tôn giáo có một vai trò rất quan trọng trong đời sống hôn nhân và gia đình, vì ảnh hưởng đến lối suy nghĩ, cách xử sự và việc giáo dục con cái.

    2. Hội Thánh có cho phép chuẩn để kết hôn với người ngoài Công giáo không?

    Có, với những điều kiện sau đây:

    -   Một là hai người phải hiểu biết và chấp nhận những   mục đích và đặc tính của hôn nhân.

    -  Hai là bên Công giáo phải cam kết giữ đức tin của mình, bảo đảm cho con cái được rửa tội và giáo dục trong Hội Thánh Công giáo.

    - Ba là phải cho bên không Công giáo biết rõ những điều ấy.

    3. Khi kết hôn với người khác đạo, người tín hữu có thể gặp những nguy hiểm nào?

    Người tín hữu có thể gặp những nguy hiểm này:

    - Một là dễ trở nên nguội lạnh và bỏ đạo.

    - Hai là gia đình thường xuyên bất đồng và dễ tan vỡ.

    4. Nếu lập gia đình với người khác đạo, bên Công giáo cần phải sống thế nào?

    Nếu lập gia đình với người khác đạo, bên Công giáo cần phải sống tốt đạo và trở nên chứng nhân Tin mừng cho con cái và người bạn đời.

    Bài 11 : SINH CON CÓ TRÁCH NHIỆM

    —X–

    “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà, khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128, 3-4).

    Sách Sáng thế kể: Hai chị em Lêa và Rakhen cùng lấy một chồng là Giacop. Khi thấy chị Lêa sinh được bốn đứa con, còn mình thì mãi không sinh nở, Rakhen đã phát ghen và nói với Giacop: “Hãy cho tôi được có con, không thì tôi chết mất” (St 30,1). Một đứa con sinh ra trong sự mong đợi quả là niềm hạnh phúc lớn lao cho đôi vợ chồng. Tuy nhiên bên cạnh niềm vui cũng có nhiều nỗi lo. Chẳng hạn đối với hai vợ chồng: phải làm sao có đủ khả năng để chăm sóc cho con cái. Đối với xã hội, dân số gia tăng có nghĩa là phải làm sao có thêm lương thực, thêm trường học, thêm bệnh viện, thêm việc làm... Chính vì thế, càng ngày người ta càng ý thức hơn vấn đề sinh con có trách nhiệm. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà các anh chị đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân cũng như các đôi vợ chồng cần quan tâm suy nghĩ.

     1. Con cái là ân huệ cao quý nhất của hôn nhân

    Truyền sinh là một ân huệ, một mục tiêu của hôn nhân, vì tình yêu vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải một cái gì từ bên ngoài được ghép vào. Vì thế Hội Thánh “bảo vệ sự sống” và dạy rằng “mọi hành vi ân ái phải tự nó mở ngỏ cho việc truyền sinh”. Giáo lý này đã được Huấn Quyền trình bày nhiều lần, nền tảng của giáo lý này là sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được tách rời.

    2. Cần phải sinh con một cách có trách nhiệm

    Nhiệm vụ sinh sản và giáo dục con cái là sứ mạng riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thực hiện nhiệm vụ ấy, họ biết rằng mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Đấng Tạo Hóa và trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận của mình với trách nhiệm của một con người và của một Kitô hữu.

    Hội Thánh cũng nhấn mạnh rằng chính lương tâm trong sáng của đôi bạn là mực thước chỉ dạy họ quyết định về số con của mình. Nhờ vâng phục Thiên Chúa và đồng tâm hiệp lực với nhau, hai vợ chồng sẽ tạo được cho mình một phán đoán ngay thẳng:

    - biết xét đến lợi ích riêng của mình cũng như của con cái đã sinh ra hoặc sẽ sinh ra,

    - biết nhận định về các hoàn cảnh vật chất và tinh thần,

    - biết nghĩ đến lợi ích của gia đình, xã hội và Hội Thánh.

    Sự phán đoán ấy, chính đôi vợ chồng phải suy nghĩ trước mặt Thiên Chúa.

    Khi hành động, các vợ chồng Kitô hữu luôn ý thức mình không thể làm theo sở thích, nhưng phải tuân theo tiếng nói của một lương tâm được khuôn đúc theo luật Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.

    3. Những tiêu chuẩn để quyết định điều hòa sinh sản

    Sinh sản có trách nhiệm là suy nghĩ kỹ lưỡng và phán đoán chín chắn trước khi quyết định sinh con. Đôi vợ chồng cần suy nghĩ và phán đoán dựa vào các tiêu chuẩn thực tế sau đây:

    3.1. Vì lợi ích của chính vợ chồng

    Mỗi đứa con chào đời phải củng cố thêm tình yêu và hạnh phúc của vợ chồng, vì đứa con là kết quả của tình yêu tự hiến của họ. Trước khi quyết định sinh con, vợ chồng phải lưu ý đến những yếu tố giúp mang lại hoặc ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ, chẳng hạn sức khỏe của người mẹ, tâm lý, ước vọng tương lai...

    3.2. Vì lợi ích của con cái

    Con cái là ân huệ tốt đẹp nhất của hôn nhân. Sinh một đứa con là tự ý chấp nhận tạo mọi điều kiện để nó có thể sống hạnh phúc, sống xứng đáng với ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa. Do đó, đôi bạn cần lưu ý đến khả năng tài chính, nơi ăn chốn ở, những phương cách giáo dục... và tính toán xem nếu sinh thêm một đứa con, liệu mình có thể nuôi dưỡng và giáo dục nó được chu đáo không.

    3.3.  Vì lợi ích của xã hội và Hội Thánh

    Xã hội phát triển là nhờ những phần tử khoẻ mạnh, siêng năng làm việc và có những đức tính cần thiết. Cũng vậy, Hội Thánh chỉ thực sự phát triển khi con cái của mình không những kiên vững về đức tin mà còn trưởng thành về nhân bản nữa. Do đó, sự lượng định về khả năng nuôi dạy và giáo dục con cái trở thành những phần tử hữu ích cho xã hội và Hội Thánh cũng là một tiêu chuẩn mà đôi bạn cần lưu ý khi quyết định về việc điều hòa sinh sản.

    4. Vấn đề ngừa thai

    Do tình trạng tài nguyên trên thế giới phân phối không đều, ngày nay những nước nghèo không đủ sống, trong khi những nước giàu quá thừa thãi. Cũng vì thế, đang khi nhiều nước giàu khuyến khích các gia đình có thêm con cái, thì các nước nghèo bị áp lực phải tìm cách hạn chế dân số. Nhiều gia đình tự thấy chỉ nên sinh con trong khả năng mình có thể nuôi dạy chúng nên người.

    Trong việc kế hoạch hóa gia đình, người Công giáo không được phép sử dụng cách ngừa thai nhân tạo mà chỉ được sử dụng cách ngừa thai tự nhiên, khi có lý do chính đáng theo những tiêu chuẩn của Hội Thánh.

    Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm đó là điều hòa truyền sinh. Khi có lý do chính đáng, đôi vợ chồng có quyền kéo dài khoảng cách giữa các lần sinh nở. Chính họ phải chứng thực rằng ước muốn đó không do ích kỷ, nhưng xứng hợp với lòng quảng đại chính đáng của bậc làm cha mẹ có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải xử sự theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý.

    Khi cần hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan suy diễn từ bản tính nhân vị và của hành động nơi nhân vị: những tiêu chuẩn ấy tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng.

    4.1. Cách thức ngừa thai nhân tạo

    Ngừa thai nhân tạo là trực tiếp làm cho khả năng sinh sản vô hiệu hoặc làm cho diễn tiến truyền sinh bị ngăn chặn hay không thể đạt kết quả.

    Cách thức ngừa thai nhân tạo áp dụng cho nam giới gồm những phương pháp: thắt ống dẫn tinh, bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo, thuốc diệt tinh trùng...

    Cách thức ngừa thai nhân tạo áp dụng cho nữ giới gồm những phương pháp : thắt ống dẫn trứng, thuốc tránh thai (uống, tiêm hoặc cấy dưới da), dụng cụ như vòng xoắn, màng ngăn...

    Hội Thánh cấm dùng các phương pháp ngừa thai này, vì chúng chẳng những ngăn cản vợ chồng cộng tác vào công cuộc trao ban sự sống mà còn làm sai lạc sự thật căn bản của tình yêu vợ chồng là hiến thân trọn vẹn cho nhau.

    “Cấm việc hút điều hoà kinh nguyệt, vì là hình thức phá thai non. Cấm những hành động trực tiếp ngăn cản việc thụ thai tạm thời hay vĩnh viễn. Cấm sử dụng các dụng cụ, các loại thuốc ngừa thai”.

    4.2. Cách thức ngừa thai tự nhiên

    Ngừa thai tự nhiên là tiết dục định kỳ, vợ chồng kiêng giao hợp trong thời kỳ người vợ dễ dàng thụ thai.

    Nếu có lý do chính đáng, vợ chồng có thể sử dụng cách thức ngừa thai tự nhiên này, vì nó không đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi yêu thương thân mật ; không trực tiếp ngăn cản việc trứng thụ tinh hay giết chết bào thai.

    Sau đây là hai phương pháp giúp xác định ngày trứng rụng, cũng như xác định trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ những ngày nào có thể thụ thai và những ngày nào không thể thụ thai.

    a)  Phương pháp Ogino-Knauss

    Phương pháp này do hai bác sĩ Ogino người Nhật và Knauss người Áo cùng tìm ra vào các năm 1925-1930. Nó dựa trên chu kỳ kinh nguyệt để xác định ngày rụng trứng. Trứng thường rụng vào ngày thứ 14 trước khi có kinh lần sau. Thỉnh thoảng trứng cũng có thể rụng vào ngày thứ 12 hoặc ngày thứ 16.

    Phương pháp này còn dựa vào thời gian hoạt động của trứng và tinh trùng. Sau khi vào âm đạo, tinh trùng có thể sống khoảng 72 giờ. Còn trứng, sau khi rụng có thể sống khoảng 24 giờ.

    Căn cứ vào những yếu tố trên, người ta có thể xác định được trong một chu kỳ kinh nguyệt khoảng thời gian nào là có thể thụ thai và khoảng thời gian nào là không thể thụ thai. Nếu chưa muốn có thai thì kiêng giao hợp trong khoảng thời gian có thể thụ thai.

    b) Phương pháp quan sát chất nhờn

    Phương pháp này do cặp vợ chồng người Úc John và Evelyn Billings tìm ra, nên còn gọi là phương pháp Billings.

    Nơi người phụ nữ, việc tiết chất nhờn ở cổ tử cung và âm đạo thường theo một quy trình nhất định. Sau những ngày kinh nguyệt, âm đạo thường khô ráo. Trước khi trứng rụng vài ngày, chất nhờn bắt đầu tiết ra, lúc đầu ít, đục, dẻo; sau đó nhiều, trong, trơn ướt, nhớt, có thể kéo sợi được, giống như lòng trắng trứng gà. Đây chính là ngày trứng rụng. Sau đó chất nhờn trở lại đục, dẻo và ít trong vài ngày, trước khi người phụ nữ lại cảm thấy khô ráo ở âm đạo cho đến kỳ kinh lần sau.

    Nếu chưa muốn có thai, vợ chồng cần kiêng giao hợp trong những ngày có chất nhờn ở âm đạo, nhất là trong ngày chất nhờn có nhiều.

    Trong thực tế, để tăng cường hiệu quả, người ta thường phối hợp cả hai phương pháp. Thật ra, không có phương pháp nào mà không có bất tiện và không đòi hy sinh, cố gắng. Ai tin vào Đức Kitô đều được mời gọi sống khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình. Vả lại, mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và trách nhiệm lưu truyền sự sống không chỉ giới hạn ở đời này, cũng như không thể hiểu và đo lường được trọn vẹn ý nghĩa ngay từ bây giờ, nhưng luôn quy chiếu về định mệnh vĩnh cửu của con người.

    Những phương pháp trên đây vẫn chưa phải là đơn giản. Chúng ta cần hưởng ứng lời mời gọi của Đức Thánh Cha để cầu xin Chúa cho các nhà khoa học có thể tìm ra những phương thức giản tiện hơn nữa, nhờ đó các đôi bạn có thể được dễ dàng hơn.

    5. Vấn đề phá thai

    Sự sống con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ từ lúc được thụ thai. Ngay khi bắt đầu hiện hữu, con người phải được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của mọi người vô tội.

    Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã xác định phá thai là một tội ác. Giáo huấn ấy bất biến, không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai dù là mục đích hay phương tiện, đều vi phạm nghiêm trọng luật luân lý.

    Cộng tác vào chính việc phá thai là một lỗi nặng. Theo giáo luật, Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm tội này. Làm như thế Hội Thánh không có ý giới hạn lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng muốn nhấn mạnh tính cách nghiêm trọng của tội ác đã phạm, sự thiệt hại không thể sửa chữa được đã gây ra cho đứa trẻ vô tội bị giết chết, cho cha mẹ của em và cho toàn xã hội.

    6. Những đôi vợ chồng vô sinh

    Thánh Kinh luôn coi những gia đình đông con là một dấu chỉ phúc lành của Thiên Chúa.

    Thật đau khổ cho những đôi vợ chồng không con. “Ông Abraham thưa: Lạy Đức Chúa, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái” (St 15,2). Rakhen nói với chồng: “Hãy cho tôi được có con, không thì tôi chết mất” (St 30,1).

    Quả thực, những đôi bạn ở trong hoàn cảnh vô sinh mới thấm thía sâu xa rằng “Con cái là ơn huệ cao quý nhất của hôn nhân và là niềm hạnh phúc lớn lao của cha mẹ”. Bởi vậy, thật hạnh phúc khi có thể nhờ những tiến bộ khoa học để chữa trị chứng vô sinh.

    Tuy nhiên, những kỹ thuật phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của một người thứ ba (cho tinh dịch hoặc trứng, cho mượn tử cung) là những hành vi phải bị loại bỏ. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền của đứa trẻ phải được sinh ra do cha mẹ đã chính thức kết hôn và quyền được biết cha mẹ là ai. Những kỹ thuật này vi phạm “độc quyền làm cha làm mẹ của đôi vợ chồng”.

    Về mặt luân lý, những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo vẫn không thể được chấp nhận, vì tách rời hành vi tính dục với việc truyền sinh. Sinh sản con cái không còn là một hành vi của hai con người hiến thân cho nhau, nhưng “sự sống và căn tính của phôi thai bị trao vào tay các bác sĩ và các nhà sinh học, và để kỹ thuật thống trị trên nguồn gốc và vận mệnh của con người. Một mối quan hệ thống trị như thế tự bản chất đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng chung của cả cha mẹ lẫn con cái”. Để cho việc truyền sinh xứng với phẩm giá con người, chúng ta phải tôn trọng mối dây liên hệ giữa những ý nghĩa của hành vi ân ái và sự tôn trọng tính thống nhất của bản tính con người.

    Đôi vợ chồng nào, sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu nỗi đau khổ vô sinh, được mời gọi liên kết với Thập Giá của Chúa là nguồn mạch mọi phong phú thiêng liêng. Họ có thể sống quảng đại bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi, hoặc tham gia những công tác phục vụ tha nhân.

    * * *

    Trong tâm tình biết ơn tình mẹ của Hội Thánh, chúng ta cùng nhau nghe lại lời Đức Thánh Cha Phaolô VI trong số 25 của thông điệp Sự Sống Con Người: “Giờ đây cha xin ngỏ lời riêng với các con cái nam nữ của cha mà đa số được Thiên Chúa mời gọi phụng sự Ngài trong bậc hôn nhân. Đang khi nêu rõ cho các con những điều không thể vi phạm mà luật Chúa đã quy định, Hội Thánh cũng loan báo ơn cứu độ cho các con, và qua các bí tích, Hội Thánh vẫn luôn mở rộng cho các con nguồn ơn thánh, giúp các con trở thành những thụ tạo mới, vừa biết lấy tình mến và tự do mà đáp lại ý định của Thiên Chúa Tạo Hoá và là Đấng Cứu Độ, vừa nghiệm ra rằng “ách của Đức Kitô luôn êm ái dịu dàng”.

    Ước gì trong trách nhiệm vợ chồng Kitô hữu, các con biết khiêm nhường vâng phục Hội Thánh và ý thức rõ rằng các con đang được gọi sống đời Kitô hữu, một ơn gọi đã bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và nay được củng cố và làm sáng tỏ hơn trong bí tích Hôn phối. Nhờ bí tích này, các con được thêm sức mạnh và được thánh hiến để trung thành chu toàn các bổn phận bậc mình. Vì thế ước gì các con ý thức trọn vẹn ơn gọi của các con và làm chứng cho Đức Kitô trước mặt thế gian. Thật vậy, Chúa đã giao cho các con trách nhiệm làm cho mọi người thấy được sự thánh thiện và niềm vui của luật Chúa, luật dạy chúng con vừa yêu thương nhau vừa biết cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa là tác giả của sự sống con người.

    Cha không hề muốn làm ngơ trước những khó khăn rất lớn đang vây phủ đời sống các đôi bạn Kitô hữu. Thế nhưng chúng ta quá biết rằng chỉ có cửa hẹp và đường chật mới dẫn đến sự sống. Chính niềm hy vọng hướng tới sự sống ấy sẽ như đuốc rực rỡ chiếu sáng bước đường chúng con đi, để chúng con có được một tinh thần quả cảm, luôn cố gắng “sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này” (Tt 2,12), vì biết chắc rằng “bộ mặt thế gian này đang qua đi” (1Cr 7,31).

    CÂU HỎI

    1. Sinh sản có trách nhiệm nghĩa là gì?

    Sinh sản có trách nhiệm nghĩa là khi sinh con, cha mẹ phải lo nuôi dưỡng, giáo dục, để chúng nên người. Bởi vậy vợ chồng cần suy xét cẩn thận để có quyết định đúng đắn và phù hợp trong việc sinh con.

    2. Vì sao cần phải sinh sản có trách nhiệm?

    Vì sinh sản có trách nhiệm, vừa thi hành đúng ý định của Thiên Chúa, vừa đáp ứng đòi hỏi của tình yêu vợ chồng, để đem lại lợi ích cho gia đình, xã hội và Hội Thánh.

    3. Để sinh sản có trách nhiệm, vợ chồng Kitô hữu phải có thái độ nào?

    Vợ chồng Kitô hữu phải có những thái độ sau đây:

    - Một là phải biết làm chủ bản năng tính dục.

    - Hai là phải biết tôn trọng lẫn nhau.

    - Ba là phải biết rõ hoàn cảnh cụ thể của mình để cùng nhau quyết định sinh con hay tạm ngừng.

    - Bốn là phải dùng cách thức tự nhiên.

    - Năm là phải biết tin tưởng vào Chúa để sẵn sàng đón nhận những đứa con ngoài ý muốn.

    4. Cách thức ngừa thai tự nhiên là gì?

    Cách thức ngừa thai tự nhiên là tiết dục định kỳ, vợ chồng kiêng cữ trong thời kỳ người vợ dễ dàng thụ thai. Khi có lý do chính đáng, vợ chồng được quyền sử dụng cách thức này.

    5. Có những phương pháp nào giúp xác định được ngày trứng rụng?

    Có hai phương pháp này :

    - Một là dựa vào chu kỳ kinh nguyệt, được gọi là phương pháp Ogino.

    - Hai là dựa vào hiện tượng chất nhờn, được gọi là phương pháp Billings.

    6. Cách thức ngừa thai nhân tạo là gì?

    Cách thức ngừa thai nhân tạo là trực tiếp làm cho khả năng sinh sản ra vô hiệu hoặc làm cho diễn tiến truyền sinh bị ngăn chặn hay không thể đạt kết quả. Người Công giáo không được sử dụng cách thức này.

    7. Để thực hiện cách thức ngừa thai nhân tạo người ta thường dùng những phương pháp nào?

    Đối với nam giới gồm có: thắt ống dẫn tinh, dùng bao cao su, xuất tinh ra ngoài, dùng thuốc diệt tinh trùng. Đối với nữ giới gồm có: thắt ống dẫn trứng, thuốc tránh thai (uống, tiêm hoặc cấy dưới da), dụng cụ như vòng xoắn, màng ngăn.

    8. Phá thai có tội hay không?

    Phá thai là tội rất nặng vì đây là tội giết người.

    Bài 12 : GIÁO DỤC CON CÁI

    —X–

    “Có con cái ư? Hãy dạy dỗ và uốn nắn chúng ngay thuở còn thơ.” (Hc 7,23)

    Hạnh phúc của cha mẹ là được thấy con cái nên người. Ngược lại, nếu con cái hư hỏng sẽ là một nỗi đắng cay phiền muộn. Kết quả đáng mừng hay đáng tủi ấy tuỳ vào sự bận tâm giáo dục của cha mẹ ngay từ đầu.

    Giáo dục con cái không phải chỉ là một bổn phận quan trọng, mà còn là một vinh dự lớn lao của bậc làm cha làm mẹ, bởi vì được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Đó là việc trồng người. Không chỉ trồng nên những người hữu ích cho xã hội, cho Hội Thánh mà còn trồng nên những vị thánh. Vì thế, giáo dục con cái không phải là một việc tuỳ hứng, nhưng cần có một đường hướng, một kế hoạch và những phương pháp.

    1. Quyền và bổn phận giáo dục con cái

    Quyền và bổn phận giáo dục con cái là cái cốt lõi của việc làm cha làm mẹ, bởi vì nó liên quan đến việc lưu truyền sự sống. So với những người khác, thì vai trò giáo dục của cha mẹ là khởi nguồn và là cơ bản vì tương quan yêu thương độc nhất vô nhị giữa cha mẹ và con cái. Vai trò giáo dục của cha mẹ không ai thay thế được và cũng không nhường cho ai được, nên không thể nào khoán trắng cho người khác hoặc để người khác chiếm đoạt.

    Yếu tố nền tảng cơ bản nhất đánh dấu vai trò giáo dục của cha mẹ là tình phụ tử và mẫu tử. Chính tình yêu thương này, như nguồn mạch xuất phát, trở thành linh hồn và quy tắc để gợi ra những sáng kiến và hướng dẫn cho mọi hoạt động giáo dục cụ thể, làm cho chúng thấm đượm những giá trị của sự dịu dàng, kiên nhẫn, nhân hậu, phục vụ, vô vị lợi, hy sinh, là những hoa trái quý giá nhất của tình yêu.

    2. Phải dạy từ lúc nào?

    Công đồng Vaticanô II ngỏ lời với các bậc làm cha làm mẹ: “Vì đã lãnh nhận ân sủng cũng như bổn phận của bí tích hôn phối nên cha mẹ phải dạy dỗ con cái ngay từ nhỏ”. Cha ông chúng ta cũng thường nói:

    Uốn cây từ thưở còn non,

    Dạy con từ thưở con còn đương thơ.

    “Còn đương thơ” hay “ngay từ nhỏ” ở đây có nghĩa là ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ. Khoa học ngày nay cho thấy: Người mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khoẻ của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Việc giáo dục này được gọi là thai giáo. Trong thời gian này, các tâm tình và thái độ ứng xử của cha mẹ sẽ ghi dấu sâu đậm trên tâm tính đứa con sắp chào đời. Do đó, những bậc cha mẹ thương con sẽ hết sức lưu ý, để trong thời gian mang thai sống thật lành mạnh về luân lý và tâm linh.

    Tuy nhiên, thời gian thuận tiện nhất để trực tiếp giáo dục con cái, đó là khi đứa con bắt đầu có trí khôn, bắt đầu nhận biết về những điều cha mẹ dạy bảo. Lúc bấy giờ gia đình sẽ trở nên mái trường đầu tiên dạy cho đứa bé những bài học làm người. Trong mái trường đó, cha mẹ chính là những “thày cô” được tín nhiệm và yêu thương hơn cả, vì cha mẹ là những người sống gần con cái, hiểu biết con cái và yêu thương con cái hơn hết.

    3. Phải dạy những gì?

    Mục tiêu của của việc giáo dục Kitô giáo là giúp con cái trở thành người và trở thành người con Thiên Chúa. Khuôn mẫu của con người hoàn hảo đó là Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa đã hạ sinh làm người để nên mẫu mực cho chúng ta noi theo.

    Trong việc giáo dục con cái, phải để ý đến mặt nhân bản cũng như mặt đức tin.

    3.1. Giáo dục nhân bản

    Nền giáo dục nhân bản phải bao gồm cả ba phương diện: đức, trí và thể dục.

    - Thể dục: dạy con vệ sinh sạch sẽ, giữ gìn sức khoẻ.

    - Trí dục: trau dồi cho chúng về học vấn, về nghề nghiệp, để chúng có thể sống tự lập, xây dựng tương lai cuộc đời mình, góp phần xây dựng xã hội.

    - Đức dục: trừ khử những thói hư tật xấu và tập luyện những tính tốt. Nhất là bốn nhân đức cột trụ làm nền tảng cho những nhân đức khác: khôn ngoan, công bằng, tiết độ và dũng cảm.

      Khôn ngoan: biết khiêm nhường lắng nghe và mau mắn vâng lời; biết suy nghĩ cân nhắc trước khi làm và khi làm xong sẽ dừng lại một chút để kiểm điểm và rút kinh nghiệm; biết xem xét và chuẩn bị kỹ để chu toàn mọi bổn phận thật chu đáo cũng như để ứng xử đúng trước những tình thế mới.

      Công bằng: Chăm chỉ làm tròn bổn phận; yêu thương mọi người, tôn trọng của cải và quyền lợi của họ; tôn trọng của chung và biết lo cho công ích; luôn thành thật trong lời nói và việc làm; không bao giờ gian lận.

      Tiết độ: Có kỷ luật, đúng giờ giấc và chừng mực trong những điều nhỏ mọn hằng ngày, trong ăn uống cũng như giải trí; tập cân nhắc đúng bậc thang giá trị theo tinh thần Kitô giáo và biết chọn lựa cách ý thức. Biết tiết kiệm. Dạy cho con cái biết giá trị của lao động cũng như giá trị thực sự của của cải vật chất. Hướng dẫn con cái chọn thú vui giải trí cũng như bè bạn

      Dũng cảm: Biết can đảm đứng vững trong điều tốt; biết chấp nhận những sai lỗi của mình, tự tin và tự lập, biết lãnh nhận trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm.

    Đối với người Việt Nam, những đức tính ấy được diễn tả qua khái niệm “trung dung”, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Những đức tính này giúp ta biết yêu thương, có lòng biết ơn, cộng tác và nâng đỡ người khác, nói năng cũng như cư xử lễ độ và tế nhị, biết suy nghĩ cân nhắc và biết tạo nên sự tin cậy lẫn nhau.

    3.2. Riêng đối với nữ giới cần thêm: Công, dung, ngôn, hạnh.

    Giáo dục giới tính: Ngoài ra, trong việc giáo dục nhân bản cũng phải để ý đến việc giáo dục giới tính, hướng dẫn con cái về phái tính và tính dục. Việc giáo dục này nhằm mục đích giúp con cái có một sự hiểu biết về tính dục phù hợp với lứa tuổi và tầm nhận thức, để chúng sống trong sạch, trưởng thành, xứng đáng là người nam, người nữ như ý Chúa. Trong việc giáo dục này, cũng cần dạy cho con cái biết sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông, đặc biệt về phim ảnh, internet.

    Nền giáo dục nhân bản này là điều hết sức cần thiết. Đức Thánh Cha nói: “Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: giá trị của con người là do cái mình làm, hơn là do cái mình có”.

    Xem đó chúng ta thấy: Để trở thành một người Kitô hữu, thì tiên vàn phải là một người cho đúng nghĩa của nó. Hay nói một cách khác: Phải là người trước đã, rồi sau đó mới có thể là người Kitô hữu.

    3.3. Giáo dục đức tin

    Là người có đạo, ngoài nền giáo dục nhân bản, cha mẹ còn phải cho con cái nền giáo dục Công giáo, nghĩa là ngay từ hồi còn tấm bé, đã phải dạy cho con cái biết mến Chúa yêu người, biết tuân giữ những giới luật của Chúa, biết tham dự những công việc đạo đức, biết siêng năng lãnh nhận các bí tích, nhờ đó con cái sẽ trở thành những Kitô hữu đích thực, nghĩa là những người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống, cũng như trở thành những người tín hữu đích thực, nghĩa là những người có đức tin và sống đức tin của mình giữa lòng cuộc đời.

    Công đồng Vaticanô II nói: “Vợ chồng đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha mẹ, sẽ chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này liên hệ đến họ trước”.

    Công đồng Vaticanô II cũng xác định nội dung của việc giáo dục Kitô giáo như sau: “Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành, nhưng chính là nhằm giúp những người đã được rửa tội, để nhờ hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm cứu rỗi, thì càng ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh, biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4, 23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (x. Ep 4,22-24), và nhờ vậy họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn đạt tới sự sung mãn của Đức Kitô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm thể được tăng trưởng”.

    Trong việc giáo dục đức tin, cũng cần để ý tới việc giúp con cái nhận ra ơn gọi của chúng và giúp chúng đáp lại ơn gọi đó.

    Khi con cái bắt đầu học giáo lý, cha mẹ nên quan tâm tìm hiểu hệ thống các lớp giáo lý trong giáo xứ mình. Ngay cả khi con cái chưa đi học, nếu được, họ cũng nên tham gia giảng dạy hoặc hỗ trợ cho các lớp giáo lý, bởi đó là cách đơn giản để nâng cao nhận thức giáo lý của mình và tự trang bị khả năng đào tạo đức tin cho con cái. Một số nơi, vì giới phụ huynh ít tham gia, việc giảng dạy giáo lý được giao cho lớp trẻ và nói tới Giáo lý viên là người ta dễ nghĩ tới những anh chị chưa lập gia đình. Thật ra, đội ngũ Giáo lý viên phải là những người có bề dày kinh nghiệm sống, cho nên Hội Thánh rất ước mong các đôi bạn quảng đại chia sẻ sứ mạng này.

    4. Để việc giáo dục đạt kết quả tốt

    4.1. Đồng tâm nhất trí

    Cha mẹ phải nhất trí với nhau trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái: Tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái và phải biết dùng những phương pháp thích hợp để giúp chúng đạt được mục đích. Công đồng xác quyết:

    “Gia đình là một trường học phát triển nhân tính, nhưng để gia đình có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mệnh mình, cần phải biết hòa hợp tâm hồn: vợ chồng phải cùng nhau bàn định, cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái”.

    Ngoài việc đồng tâm nhất trí với nhau, cha mẹ còn phải biết cộng tác với những nhà giáo dục khác, đặc biệt là các thầy cô và các Giáo lý viên.

    4.2. Làm gương sáng

    Kể từ lễ đính hôn, bình thường người ta chỉ còn hơn một năm để trở thành nhà giáo dục. Cách hữu hiệu nhất để biến mình thành nhà giáo dục là cương quyết sống những gì mình muốn truyền đạt cho con cái. Khi cha mẹ thăng tiến chính bản thân, nêu gương đời sống tốt đẹp về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác, con cái sẽ noi theo. Đúng như người xưa vẫn nói:

    - Cha nào con nấy,

    - Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Thật vậy, đứa bé, nhất là khi còn nhỏ, chưa có đủ trí khôn để phân biệt điều phải và điều trái, điều tốt và điều xấu. Nó thường bắt chước những gì cụ thể đập vào mắt nó. Thấy người lớn nói và làm thế nào, nó sẽ bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, gương sáng của cha mẹ là điều rất cần thiết trong việc giáo dục con cái. Cha ông ta thường nói:

    Lời nói như gió lung lay,

    Việc làm như tay lôi kéo.

    Công đồng cũng xác quyết: “Được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn”.

    4.3. Tạo bầu khí gia đình đầm ấm

    Cần tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, hoà thuận, lạc quan và biết tín nhiệm nhau. Trong Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo, Công đồng Vaticanô II nói: “Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện con cái trong đời sống cá nhân và xã hội trở nên dễ dàng. Do đó Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể”.

    Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 nơi số 12 viết: “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa”.

    4.4. Tìm hiểu con cái

    Giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ luôn có một khoảng cách. Nếu không chịu tìm hiểu con cái, công việc giáo dục của cha mẹ sẽ không đạt được những kết quả mong muốn đã đành, mà còn gây nên những bực bội và oán trách. Quả thật, giữa cha mẹ và con cái luôn có một bức tường ngăn cách. Bức tường này chính là tuổi tác. Vì tuổi tác chênh lệch, nên thời gian và không gian của hai thế hệ già và trẻ cũng khác biệt, để rồi từ môi trường sống ấy đã phát sinh những dị biệt, những bất đồng.

    Giáo dục có nghĩa là hướng dẫn, uốn nắn và làm cho tốt đẹp hơn. Vì thế, việc đầu tiên cần thực hiện ngay, đó là phải tìm hiểu con cái, phải biết con cái nghĩ gì, muốn gì, nói gì và làm gì thì mới có thể hướng dẫn chúng một cách hữu hiệu.

    Điều gì tốt nơi con cái, cần biết duy trì và cổ võ để được liên tục phát triển, còn điều gì xấu, lo nhắc bảo và sửa sai bằng những lời lẽ ôn tồn và tế nhị, thành thực và yêu thương.

    Có tìm hiểu con cái, cha mẹ mới cảm thông và xích lại gần con cái hơn, nhờ đó lấp đầy được hố sâu ngăn cách giữa già và trẻ, một hố sâu muôn thuở trong gia đình cũng như ngoài xã hội, đã tạo nên những mối bất bình sâu xa giữa cha mẹ và con cái.

    4.5. Kiên nhẫn trong việc giáo dục

    Uốn cây, cần phải kiên nhẫn, bằng không nó sẽ gãy. Vì thế, người xưa đã từng khuyên: “Dục tốc bất đạt”. Vội vã sẽ không thành.

    Trẻ con thường ham chơi và mau quên. Cho nên nói một lần mà thôi chưa đủ, chúng ta phải nói lần nữa và lần nữa. Chúng ta phải nhắc đi nhắc lại để những lời khuyên nhủ được thấm dần vào đầu óc của chúng.

    Đừng bao giờ thất vọng và nản chí trong việc uốn nắn sửa dạy con cái, bởi vì đó là một ơn gọi, một thiên chức cao cả mà Chúa đã dành cho chúng ta, những bậc làm cha và làm mẹ.

    4.6. Cầu nguyện cho con cái

    Một trong những điều mà bậc làm cha làm mẹ cần nhớ, đó là ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa: cộng tác trong việc vun trồng sự sống, cộng tác trong việc truyền sinh cũng như trong việc giáo dục con cái. Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái. Bởi vậy, trong việc giáo dục con cái, hai vợ chồng cần chạy đến với Chúa, bởi vì “Không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 5). Đến với Chúa để xin Ngài soi sáng và hướng dẫn cách thức dạy dỗ. Cầu nguyện cho con cái, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển khó khăn của chúng.

    Sau cùng và hết sức quan trọng, để biết dạy dỗ con em, ta cần biết đến với vị Thầy tối cao của nhân loại là Chúa Giêsu Kitô: “Hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho ta để ta học được sự hiền lành và khiêm nhường cần có.

    CÂU HỎI

    1. Vì sao giáo dục con cái là bổn phận quan trọng nhất của cha mẹ?

    Vì cha mẹ được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Bổn phận này không ai thay thế được.

    2. Phải giáo dục con cái những gì?

    Ngay từ lúc con cái còn tấm bé, cha mẹ đã phải cho chúng một nền giáo dục nhân bản, đồng thời còn phải cho chúng một nền giáo dục Công giáo, giúp chúng trở thành những Kitô hữu trưởng thành.

    3. Làm sao để việc giáo dục đạt kết quả tốt?

    Để đạt kết quả tốt trong việc giáo dục con cái, cha mẹ cần phải:

    - Một là đồng tâm nhất trí với nhau.

    - Hai là nêu gương trước những gì mình muốn truyền đạt.

    - Ba là tạo bầu khí yêu thương trong gia đình.

    - Bốn là tìm hiểu con cái.

    - Năm là kiên nhẫn trong việc giáo dục.

    - Sáu là cầu nguyện cho con cái.

    Bài 13: CÁC THỦ TỤC VÀ LỄ NGHI TÔN GIÁO

    —X–

    1. Các thủ tục theo giáo luật

    Các thủ tục của Hội Thánh có mục đích bảo đảm những điều kiện trên, giúp đôi bạn cử hành Bí tích Hôn phối được thành sự.

    1.1-     Chuẩn bị:

    Khi có ý định tiến tới hôn nhân, hai bên nam nữ cần đến gặp cha xứ (thường là cha xứ bên nữ).

    Cha xứ sẽ trao đổi và giúp anh chị làm tờ khai hôn phối, để biết anh chị có đúng là Kitô hữu không (đã Rửa tội, Rước lễ và Thêm sức chưa), có hiểu rõ ý nghĩa của hôn nhân Kitô giáo, có biết rõ nhiệm vụ của vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu không. Ngài sẽ giúp anh chị học hoặc ôn lại giáo lý hôn nhân cũng như cách sống đức tin trong đời sống hôn nhân và gia đình. Việc chuẩn bị này là điều rất quan trọng để lời cam kết của hai anh chị trở thành một hành vi tự do và có trách nhiệm, cũng như hôn ước của anh chị có được nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, vững chắc và lâu dài.

    Để giúp anh chị kết hôn thành sự và hợp pháp theo như luật của Hội Thánh quy định, ngài cũng cần phải biết chắc hai anh chị không bị mắc ngăn trở nào. Nếu có, ngài sẽ giúp anh chị giải quyết. Ngoài ra, anh chị cũng cần được hướng dẫn để hiểu rõ ý nghĩa các nghi thức khi cử hành bí tích Hôn phối.

    Nếu anh hoặc chị thuộc một giáo xứ khác thì phải trình giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức. Việc chịu phép Rửa tội là cần thiết để lãnh nhận thành sự bí tích Hôn phối. Còn đối với bí tích Thêm sức, luật Hội Thánh quy định: “Người Công giáo nếu chưa Thêm sức, phải lãnh nhận bí tích này trước khi kết hôn. Bí tích Thêm sức giúp củng cố và làm tăng trưởng đức tin trong đời sống vợ chồng và của con cái sau này. Riêng đối với bí tích Giao hoà và Thánh Thể, Hội Thánh khuyên: “Để lãnh nhận bí tích Hôn phối cho có kết quả, hết sức khuyên đôi vợ chồng lãnh nhận các bí tích Giao hoà và Thánh Thể.”

    1.2-Rao hôn phối :

    Sau khi học hỏi giáo lý hôn nhân xong, nếu hai bên quyết định dứt khoát kết hôn, thì trình cho cha xứ bên gái biết. Ngài sẽ làm lời rao hôn phối và rao trong ba Chúa nhật ở giáo xứ của mỗi bên.

    Việc rao hôn phối tại mỗi xứ nhằm để cho mọi người trong cộng đoàn biết, thêm lời cầu nguyện và xem xét có gì ngăn trở thì giải quyết trước hoặc trình báo với cha xứ, đồng thời cũng để ấn định lễ cưới.

    Sau cùng, anh chị cũng cần nhớ: trước khi làm lễ cưới ở nhà thờ, anh chị phải hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn theo dân luật.

    2. Cử hành bí tích Hôn phối

    2.1-Địa điểm: tại nhà thờ giáo xứ của bên nữ hoặc bên nam. Nếu cử hành tại một nhà thờ khác hay một nhà nguyện, cần có phép của cha xứ .

    2.2-Nhân chứng: cần có 2 người làm chứng.

    2.3-Chứng hôn: Người chứng hôn là người hiện diện để đòi hỏi hai bên kết ước bày tỏ sự ưng thuận lấy nhau và nhân danh Hội Thánh đón nhận sự bày tỏ ấy. Bình thường, cha xứ là người chứng hôn. Ngài có thể uỷ quyền cho các linh mục khác, hoặc phó tế chứng hôn. Nơi nào thiếu linh mục và phó tế, Đức Giám mục giáo phận có thể uỷ quyền chứng hôn cho một giáo dân xứng hợp.

    2.4-Ghi sổ: Sau khi cử hành bí tích Hôn phối, đôi tân hôn, vị chứng hôn và hai người làm chứng ký tên vào Sổ Hôn phối. Sau đó ghi việc kết hôn vào sổ rửa tội của đôi tân hôn.

    3. Nghi thức bí tích Hôn phối

    “Vì các bí tích đều liên quan trực tiếp đến Bí tích Thánh Thể nên bình thường Bí tích Hôn phối phải được cử hành trong Thánh lễ”. Trong thánh lễ, chúng ta tưởng niệm Giao Ước mới, trong đó Đức Kitô kết hiệp vĩnh viễn với Hội Thánh là Hiền Thê được Ngài yêu mến và hiến thân để thánh hoá. Do đó, bí tích Hôn phối được cử hành trong thánh lễ thật là thích hợp: đôi hôn phối bày tỏ sự ưng thuận hiến thân cho nhau bằng việc liên kết với Đức Kitô hiến thân cho Hội Thánh, đều được hiện tại hoá trong thánh lễ, và bằng việc rước lễ để nhờ kết hợp với Mình và Máu Đức Kitô, họ “trở thành một thân thể” trong Ngài.

    Nghi thức hôn phối được bắt đầu sau bài Phúc âm và bài giảng, gồm ba phần:

    3.1-Phần một: Thẩm vấn đôi tân hôn

    Chủ tế lần lượt hỏi cô dâu và chú rể ba câu hỏi về sự tự do, về việc yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời và về việc đón nhận con cái. Những câu hỏi này nhằm giúp đôi tân hôn chính thức xác nhận trước mặt mọi người rằng họ thực sự ý thức và trưởng thành khi quyết định kết hôn, nghĩa là có sự tự do để lấy nhau, chấp nhận ý nghĩa và mục đích của hôn nhân là yêu thương và chung thủy với nhau, sẵn sàng đón nhận và giáo dục con cái.

    3.2-Phần hai: Trao đổi lời thề hứa

    Đây là phần chủ yếu của bí tích Hôn phối. Đôi tân hôn sẽ trao đổi lời thề hứa nhận nhau làm vợ làm chồng và cam kết trung thành với nhau suốt đời.

    3.3-Phần ba: Làm phép và trao nhẫn cưới

    Chủ tế làm phép nhẫn, sau đó anh chị trao nhẫn cho nhau, như dấu chỉ của tình yêu và lòng trung thành. Tiếp đến, đôi tân hôn, hai người chứng và linh mục cùng ký tên vào Sổ Hôn phối. Sổ này được lưu trong văn khố của giáo xứ. Việc ký tên này cũng có thể được thực hiện sau thánh lễ.

    Nghi thức Hôn phối kết thúc. Thánh lễ tiếp tục. Sau kinh Lạy Cha có một lời nguyện đặc biệt cầu cho đôi tân hôn. Hội Thánh khẩn cầu Chúa ban đầy ân sủng và phúc lộc cho đôi tân hôn để bản thân họ được thánh thiện và hạnh phúc, gia đình họ được hòa thuận và bền vững. Hội Thánh cũng nguyện xin ơn Thánh Thần cho họ vì “Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của họ, là nguồn mạch tình yêu của họ, là sức mạnh giúp họ chung thuỷ”.

    Các bài đọc Kinh Thánh được chọn riêng cho lễ Hôn phối xoay quanh ba ý chính:

    - Mục đích, ý nghĩa, bản chất của tình yêu và hôn nhân Kitô giáo.

    - Những con người mẫu mực trong đời sống hôn nhân và gia đình.

    - Bổn phận và trách nhiệm của vợ chồng, cha mẹ, con cái trong đời sống hôn nhân và gia đình.

    Đối với việc công bố Lời Chúa (đọc bài đọc 1 và 2), nên chọn trong số những người thân thuộc của đôi tân hôn, chẳng hạn như người làm chứng, anh chị em trong gia đình hoặc bè bạn. Lúc này, đôi tân hôn trước tiên phải là những người lắng nghe và đón nhận Lời Chúa đang công bố cho mình.

    CÂU HỎI

    1. Khi quyết định tiến tới hôn nhân, đôi bạn cần làm những thủ tục nào?

    Khi quyết định tiến tới hôn nhân, đôi bạn cần trình cha xứ để làm những việc này:

    - Một là làm tờ khai hôn phối.

    - Hai là được hướng dẫn về giáo lý hôn nhân.

    - Ba là rao hôn phối.

    - Bốn là quyết định ngày cử hành hôn lễ.

    2. Về mặt dân sự, cần làm thủ tục nào?

    Về mặt dân sự, cần đăng ký kết hôn tại Uỷ ban Nhân Dân Phường hoặc Xã nơi cư ngụ.

    3. Vì sao Hội Thánh buộc các tín hữu cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh?

    Hội Thánh buộc các tín hữu cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh vì bốn lý do này:

    - Một là vì Bí tích Hôn phối là hành vi phụng vu.

    - Hai là vì Hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh.

    - Ba là vì cần phải có sự chắc chắén về sự kết hôn nên buộc phải có người làm chứng.

    - Bốn là vì việc công khai bày tỏ sự ưng thuận sẽ giúp hai vợ chồng sống chung thuỷ với nhau.

    4. Nghi thức bí tích hôn phối gồm mấy phần?

    Nghi thức Bí tích Hôn phối gồm ba phần:

    - Một là thẩm vấn đôi hôn phối về sự tự do, về việc yêu thương và tôn trọng nhau và về việc đón nhận con cái Chúa ban.

    - Hai là trao đổi lời thề hứa.

    - Ba là làm phép và trao nhẫn cưới.

    Bài 14: GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI

    —X–

    “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).

    Hôn nhân không chỉ liên quan đến hai vợ chồng mà còn liên quan đến một phạm vi rộng lớn hơn, từ họ hàng hai bên cho đến xã hội, bởi vì gia đình là tế bào căn bản của xã hội. Gia đình có êm ấm thì xã hội mới ổn định và bền vững.

    Vì mang tính xã hội, nên hôn nhân cần được pháp luật chứng nhận và bảo vệ. Tại Việt Nam, về mặt dân sự ta có luật “Hôn nhân và Gia đình” được Quốc Hội thông qua ngày 09.6.2000, gồm 110 điều. Còn về mặt tôn giáo, trong bộ luật của Hội Thánh, được gọi là giáo luật, ban hành ngày 25.01.1983, có 111 khoản về hôn nhân.

    Luật của Hội Thánh chỉ ràng buộc đối với người Công giáo. Khi đưa ra những luật này, Hội Thánh nhắm giúp con cái mình xây dựng một cuộc sống hôn nhân và gia đình bền vững, hạnh phúc, thánh thiện, thể hiện ơn gọi hôn nhân và gia đình như ý Thiên Chúa muốn.

    1. Điều kiện cử hành bí tích Hôn phối

    Để Bí tích Hôn phối thành sự, cần những điều kiện sau:

    - Phải là một người nam và một người nữ, đã rửa tội.

    - Hai người có tự do để kết hôn. Tự do ở đây có nghĩa là: Không bị ép buộc

    - Không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh.

    - Phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn của mình.

    - Cử hành theo thể thức của Hội Thánh.

    2. Các ngăn trở Hôn phối

    Ngăn trở hôn phối là tình trạng hay hoàn cảnh làm cho cuộc hôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.

    Để có thể kết hôn thành sự, cả hai phải trong tình trạng tự do, không bị ngăn trở nào theo luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh. Những ngăn trở thuộc luật tự nhiên dựa trên hôn nhân như một định chế tự nhiên, chúng chi phối mọi người. Những ngăn trở thuộc luật Hội Thánh dựa trên bản chất bí tích của hôn nhân, cũng như trên mối liên hệ của hôn nhân với cộng đồng tín hữu, chỉ chi phối người Công giáo mà thôi.

    3. Các ngăn trở hôn phối gồm có:

    3.1. Ngăn trở do chưa đủ tuổi để kết hôn

    Để kết hôn thành sự, nam phải đủ 16 tuổi, nữ phải đủ 14 tuổi. Tuy nhiên, Hội Đồng Giám mục của mỗi quốc gia có quyền quy định tuổi cao hơn để kết hôn hợp pháp. Tại Việt Nam, nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ 18 tuổi trở lên, theo như Luật Hôn nhân và Gia đình điều 9.

    3.2. Ngăn trở do bất lực

    Một trong hai người trước khi kết hôn đã mắc chứng bất lực, không thể chữa trị được. Bất lực khác với vô sinh. Bất lực là không thể giao hợp. Còn vô sinh là không thể có con. Việc vô sinh không phải là một ngăn trở hôn phối.

    3.3. Ngăn trở do đã kết hôn

    Một trong hai người còn bị ràng buộc bởi dây Hôn phối trước. Ngăn trở này chỉ chấm dứt khi:

    - Người phối ngẫu chết.

    - Hôn nhân thành sự nhưng chưa hoàn hợp, được Đức Giáo Hoàng đoạn tiêu vì lý do chính đáng.

    - Hôn nhân giữa hai người chưa rửa tội được đoạn tiêu do đặc ân Phaolô, nhằm bảo vệ đức tin của bên lãnh nhận phép Rửa tội, do chính sự kiện là bên được rửa tội lập hôn nhân mới, và bên không được rửa tội muốn phân ly.

    3.4. Ngăn trở do khác biệt tôn giáo

    Một bên Công giáo, còn một bên không Công giáo.

    3.5. Ngăn trở do chức thánh

    Những người đã chịu chức thánh không thể kết hôn thành sự. Những người có chức thánh gồm: Giám mục, linh mục và phó tế.

    3.6. Ngăn trở do khấn dòng

    Những người chính thức thuộc về một dòng tu bằng lời khấn công khai sẽ vĩnh viễn sống khiết tịnh (hay còn gọi là khấn trọn đời, vĩnh khấn) không thể kết hôn thành sự.

    3.7. Ngăn trở do bắt cóc

    Hôn nhân bất thành đối với trường hợp bắt cóc người nữ để lấy cô ta.

    3.8. Ngăn trở do tội mưu sát phối ngẫu

    - Giết vợ hay giết chồng mình (kể cả âm mưu hoặc đồng loã) để lấy người khác.

    - Giết vợ hay giết chồng của người phối ngẫu (kể cả âm mưu hoặc đồng loã) để lấy họ.

    3.9. Ngăn trở do họ máu (huyết tộc)

    - Theo hàng dọc: hôn nhân bất thành giữa mọi người trong họ máu hàng dọc.

    - Theo hàng ngang: hôn nhân bất thành cho tới hết 4 bậc.

    3.10. Ngăn trở do họ kết bạn

    Hôn thuộc theo hàng dọc dù ở cấp nào cũng tiêu huỷ hôn phối. Ví dụ, giữa cha chồng với con dâu, chàng rể với mẹ vợ. Tuy nhiên, theo hàng ngang thì không bị ngăn trở. Ví dụ: anh chồng có thể lấy em dâu, vợ chết có thể lấy em vợ.

    3.11. Ngăn trở do công hạnh

    Hay còn gọi là ngăn trở liêm sỉ. Ngăn trở này phát sinh do cuộc hôn phối bất thành sau khi đã có sống chung, hoặc do tư hôn công nhiên hay công khai. Ngăn trở này tiêu hủy hôn nhân giữa người nam với các người họ máu của người nữ bậc một hàng dọc, và ngược lại. Chẳng hạn: nếu anh X đã từng chung chạ với cô Y, thì không thể lấy mẹ hoặc con riêng của cô Y; và cô Y cũng không thể lấy cha hoặc con riêng của anh X.

    3.12. Ngăn trở do pháp tộc

    Những người có họ hàng thân thuộc pháp lý do nghĩa dưỡng, ở hàng dọc hoặc hai bậc hàng ngang, không thể kết hôn với nhau thành sự. Ngăn trở này làm hôn nhân bất thành giữa: con nuôi với cha mẹ nuôi; con nuôi với cha mẹ hoặc con cháu ruột của cha mẹ nuôi; hai con nuôi của cùng một cha mẹ nuôi.

    4. Chuẩn ngăn trở

    Nếu mắc phải một trong các ngăn trở trên, dù hai người có lấy nhau, hôn phối vẫn không thành. Đó chỉ là một sự chung chạ bất hợp pháp mà thôi. Để kết hôn thành sự và hợp pháp, cần phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, không phải ngăn trở nào Hội Thánh cũng có thể miễn chuẩn được.

    Đối với những ngăn trở thuộc luật tự nhiên, Hội Thánh không có quyền miễn chuẩn. Đó là những ngăn trở:

    - Do bất lực.

    - Do đã kết hôn.

    - Do có họ máu hàng dọc.

    - Do có họ máu hai bậc hàng ngang.

    Đối với những ngăn trở chỉ do luật Hội Thánh mà thôi thì Hội Thánh có quyền miễn chuẩn, và khi được miễn chuẩn thì cuộc hôn nhân thành sự.

    Các ngăn trở Hội Thánh có thể miễn chuẩn khi có lý do chính đáng:

    - Về tuổi tối thiểu.

    - Về họ máu ba bậc trở đi theo hàng ngang: bà con và anh em họ.

    - Về họ kết bạn.

    - Về tội ác (tội mưu sát phối ngẫu)

    - Về chức thánh.

    - Về lời khấn.

    - Về công hạnh.

    - Về khác tôn giáo.

    Riêng đối với các cuộc hôn nhân khác tôn giáo, sở dĩ Hội Thánh dè dặt và thận trọng chỉ vì yêu thương con cái. Muốn gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải hoà hợp. Tín ngưỡng là một vấn đề quan trọng. Nếu có sự khác biệt thì dễ xảy ra xung khắc, đe doạ sự hoà hợp, nhất là đối với việc giáo dục con cái. Tuy nhiên, cũng vì tôn trọng tự do, Hội Thánh không cấm đoán. Hội Thánh hy vọng lòng đạo đức của bên này sẽ thánh hoá bên kia.

    5. Sự ưng thuận kết hôn

    Hội Thánh coi việc hai người bày tỏ sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết “làm nên hôn nhân”. Thiếu sự ưng thuận này thì hôn nhân không thành.

    Sự ưng thuận kết hôn là hành vi nhân linh - nghĩa là hành vi của con người có ý thức và tự do -, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau: “Anh nhận em làm vợ”; “Em nhận anh làm chồng”. Sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt” (x. St 2,24; Mc 10,8; Ep 5,31)”. Bởi vậy, “sự ưng thuận này phải là một hành vi ý chí của mỗi bên kết hôn, không bị cưỡng bức vì bạo lực hay quá sợ hãi do một nguyên cớ bên ngoài. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Nếu thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành”.

    Thiếu sự tự do ưng thuận thực sự giữa hai bên, khi:

    - Không có đủ trí khôn.

    - Thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân

    - Vì bị tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

    - Vô tri: Không biết hôn nhân là gì.

    - Lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

    - Lường gạt. Khi chủ ý lừa dối về sự có hay không một phẩm cách của mình, nhằm đạt được sự ưng thuận của bên kia. Phẩm cách này quan trọng đến nỗi sau này khi khám phá ra thì đời sống hôn nhân có thể bị tác hại trầm trọng.

    - Giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

    - Ưng thuận với điều kiện về tương lai. Đặt điều kiện về tương lai thì hôn nhân bất thành

    - Ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.

    - Bạo lực: nếu bị người khác dùng sức mạnh để cưỡng ép ưng thuận kết hôn thì sự ưng thuận đó vô hiệu.

    - Sợ hãi: sự sợ hãi có thể làm cho hôn nhân vô hiệu khi hội đủ 3 đặc tính sau:

    + Sợ hãi có tính cách trầm trọng chứ không phải vu vơ.

    + Sợ hãi do nguyên nhân ngoại tại, nghĩa là do một người khác gây ra chứ không phải do chính đương sự.

    + Sự sợ hãi có tính cách tất định, nghĩa là không có cách nào khác để thoát khỏi sự đe dọa ngoại trừ ưng thuận kết hôn.

    6. Thể thức hôn phối

    Để Hôn nhân thành sự, đôi hôn phối cần phải cử hành theo thể thức của Hội Thánh: Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn có thẩm quyền: hoặc cha xứ, hoặc một linh mục, hay phó tế được một trong hai vị trên ủy quyền, cùng với hai người làm chứng.

    Linh mục (hay phó tế) chứng giám nghi thức Hôn phối, nhân danh Hội Thánh nhận lời ưng thuận của đôi hôn phối và chúc lành cho họ. Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh và của những người làm chứng cho thấy rõ hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh.

    Ngoài ra, còn phải cử hành tại nhà thờ giáo xứ, nơi một trong hai người kết hôn có chỗ thường trú, hoặc tạm trú một tháng. Nếu muốn cử hành nơi khác, phải có phép của Đấng Bản quyền sở tại hoặc cha xứ.

    CÂU HỎI

    1. Để Bí tích Hôn phối thành sự phải có những điều kiện nào?

    Phải có bốn điều kiện này:

    - Một là một nam một nữ đã rửa tội.

    - Hai là có tự do kết hôn, không bị ép buộc cũng không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh

    - Ba là phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn.

    - Bốn là cử hành theo thể thức của Hội Thánh.

    2. Ngăn trở hôn phối là gì?

    Ngăn trở hôn phối là những hoàn cảnh hoặc trường hợp làm cho cuộc phôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.

    3. Có bao nhiêu ngăn trở hôn phối?

    Có 12 ngăn trở sau đây:

    - Một là chưa đủ tuổi kết hôn

    - Hai là bất lực, không thể sinh hoạt vợ chồng.

    - Ba là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

    - Bốn là khác tôn giáo.

    - Năm là chức thánh.

    - Sáu là khấn dòng.

    - Bảy là bắt cóc.

    - Tám là tội mưu sát phối ngẫu.

    - Chín là có họ máu.

    - Mười là có họ kết bạn.

    - Mười một là công hạnh.

    - Mười hai là pháp tộc.

    4. Khi mắc ngăn trở thì phải làm gì?

    Phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, có những ngăn trở Hội Thánh cũng không thể miễn chuẩn được, đó là các trường hợp:

    - Một là bất lực,

    - Hai là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

    - Ba là có họ máu theo hàng dọc.

    - Bốn là có họ máu hai bậc theo hàng ngang.

    5. Vì sao sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết làm nên hôn nhân?

    Vì sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt”. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành.

    6. Những trường hợp nào thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn?

    Những trường hợp sau đây:

    - Một là không có đủ trí khôn.

    - Hai là thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

    - Ba là vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

    - Bốn là vô tri, không biết hôn nhân là gì.

    - Năm là lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

    - Sáu là lường gạt.

    - Bảy là giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

    - Tám là ưng thuận với điều kiện về tương lai.

    - Chín là ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.

    B – PHẦN GIÁO LÝ THÊM SỨC

    (Dựa theo Tài liệu Lớn lên trong Chúa Thánh Thần – Gp. Xuân Lộc)

    —|–

    BÀI 32: BÍ TÍCH

    BÀI 37: BÍ TÍCH THÊM SỨC

    BÀI 38 – SỐNG BÍ TÍCH THÊM SỨC

     

    BAN MỤC VỤ GIÁO LÝ

    Bài viết liên quan

    LIÊN KẾT GIỚI TRẺ